Sunday, August 20, 2006

Người tình - Janusz. l. Wisniewski

Như một sợi dây thép gai, mỗi chữ được khắc trên cái nhẫn ấy như một cái gai châm móc vào tôi. Joanna 30.12.1978. Tôi bắt đầu thấy đau từ chữ "J", những giọt nước mắt đầu tiên trào ra ở chữ "a", một cái gì đó xuyên qua tôi ở số "30".

Tôi sinh ngày 30.12, vào ngày cưới của anh, chỉ có điều trước tám năm. Khi đến sinh nhật tôi, bao giờ anh cũng có hai bó hoa hồng. Một cho tôi. Màu trắng. Đẹp vô cùng. Bó thứ hai cho vợ anh. Màu đỏ.

Anh để nó ở chỗ cửa bếp, để chúng tôi không nhận thấy sự hiện diện của nó, khi chúng tôi yêu nhau trên thảm, hay trong phòng ngủ. Vờ như nó cũng như cái cặp của anh. Khi mọi chuyện đã xong, tôi đứng dậy và vào phòng tắm, anh có thói quen nằm hút thuốc. Lúc ở phòng tắm đi ra, qua sảnh, tôi mới để ý đến bó hoa. Tôi bèn đi lấy cái bình to nhất bằng thuỷ tinh màu tím, đổ nước và để bó hoa dành cho vợ anh vào bình. Cũng rất đẹp. Vì anh mua hoa như thể cho chính mình, để được vui trước niềm vui đón nhận những bông hoa từ tay anh, của tôi. Và cả của vợ anh nữa.

Tôi đứng quay lưng ra cửa sổ, khoả thân, run rẩy vì lạnh và đau đớn, bẽ bàng. Tôi chờ cho mình hết run. Sau đó tôi trở lại sàn nhà hoặc phòng ngủ, nép người vào anh và quên tất cả. Đôi khi tôi có cảm giác là anh biết những gì vừa xảy ra với tôi dưới bếp, và anh muốn dùng nụ hôn để băng lại vết thương mà cái dây thép gai kia đã gây ra cho tôi. Và anh đã băng kín. Thế là, khi anh lấy bó hoa trong bếp để về nhà, tôi cảm thấy rất rõ ràng rằng không có anh, tôi không thể có những khoảnh khắc như tôi đã có. Tôi được nếm trải niềm hạnh phúc lớn lao chính là vì cùng với anh.

***

Đôi khi anh từ dưới phố hổn hển chạy lên phòng để cảm ơn tôi đã để hoa trong bình. Đó là những lúc tôi cảm thấy đau đớn nhất. Cũng như anh, tôi không muốn nhắc đến điều đó. Vờ làm như bó hoa cũng chỉ như cái cặp của anh. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ thành công. Lần nào tôi cũng đi lấy cái bình tím, còn anh bao giờ cũng quay lại để cảm ơn. Anh quay lại, vì anh coi lòng biết ơn là một cái gì đó cần phải bày tỏ giống như sự tôn trọng. Tốt nhất là ngay tức thì. Rồi anh chạy xuống cầu thang, còn tôi quay vào phòng ngủ hoặc phòng khách, nơi mà anh vừa mới hôn tôi, uống nốt chỗ vang thừa trong ly của anh và của tôi, mở tiếp một chai khác, rót vào hai cái ly và khóc. Khi vang đã cạn, tôi ngủ ngay trên thảm. Sáng dậy, tôi nhìn hình ảnh của mình trong gương. Những vết sẫm từ sơn kẻ mắt chạy dài trên má. Những vết vang đỏ đã khô trên ngực, tôi đã làm rớt vang khi bàn tay rung lên vì nức nở hoặc khi đã quá say. Tóc bết vào trán và cổ. Khi nhìn thấy hình ảnh ấy trong gương, tôi bỗng thấy căm thù và khinh bỉ bản thân mình, và cả anh, cả vợ anh, và tất cả hoa hồng trên thế gian này. Tôi chạy vào phòng khách, lôi bó hoa phải ôm bằng cả hai tay ấy ra, quật xuống sàn nhà, vào bàn ghế, vào bậu cửa. Cho đến khi không còn lại một bông hoa nào tôi mới ngừng đập. Tôi đi ngủ. Tỉnh dậy vào buổi trưa và giẫm chân trần lên những cánh hoa trắng trên sàn nhà. Trên một vài cánh hoa có cả những vệt máu từ tay tôi do bị gai hồng đâm phải.
Và đã như vậy từ sáu năm nay.

Sao tôi lại chấp nhận được tình trạng đó?

Mẹ tôi cũng hỏi như vậy mỗi khi tôi về nhà vào dịp lễ Tết. Và bao giờ bà cũng khóc. Người ta không thể nói chấp nhận hay không chấp nhận làm điều mà người ta thấy cần thiết hoặc khát khao!

Tôi yêu anh kinh khủng, đến mức đôi khi tôi thấy như ngạt thở. Đôi khi tôi ước gì anh bỏ tôi đi mà không làm tôi bị tổn thương. Nhưng anh là người tình chung thuỷ nhất. Anh chỉ có tôi và vợ. Anh chỉ ra đi khi nào tôi ra lệnh cho anh hoặc khi tôi có người đàn ông khác. Nhưng tôi không thể ra lệnh cho anh rời bỏ tôi. Còn với những người đàn ông khác thì tôi lại không hợp. Tôi biết thế.

Đó là vào hai năm trước đây. Anh phải đi công tác mấy tuần ở Brussel. Tôi sẽ bay đến chỗ anh vào ngày cuối cùng. Chỉ riêng kế hoạch đã khiến tôi ngây ngất. Chúng tôi sẽ được ở bên nhau bảy ngày tám đêm. Hạnh phúc biết bao! Thứ sáu tôi sẽ bay, thế mà thứ tư tôi bỗng bị sốt. Trên 39 độ. Tôi khóc vì bực tức. Tôi chỉ muốn bóp cổ cô bạn đã mang virus cúm đến cơ quan để tôi bị lây. Tôi đã uống hàng vốc vitamin C, nuốt aspirin, mua về một túi nặng cam và chanh, và ăn lấy ăn để với hy vọng là sẽ khoẻ lại. Khi tất cả chẳng ăn thua gì, mà tôi vẫn sốt trên 39 độ, mỗi lần ho tưởng như có ai thúc xẻng vào hông mình, tôi đành phải đi khám.

Tôi đứng chờ trong một hành lang hẹp. Trong một cái ghế trước phòng khám phụ sản là vợ anh đang ngồi đọc sách. Phía dưới cửa sổ, bên một cái bàn thấp, con gái anh đang vẽ gì đó vào một tờ giấy to. Khi tôi đi vào, cô bé ngẩng đầu lên và cười với tôi. Nó cười hệt như anh. Bằng cả khuôn mặt. Và cũng nháy mắt hệt như anh. Tôi cảm thấy tay mình run rẩy. Đúng lúc ấy vợ anh được gọi tên, đứng dậy. Chị ta gấp sách, nói gì đó với con gái và nhìn tôi cười, chỉ vào cái ghế trống. Chị ta đi qua tôi trong hành lang hẹp, chạm cả cái bụng vĩ đại vào tôi.

Mắt tôi tối sầm lại. Tôi đến bên cửa sổ, và mặc cho mọi người phản đối tôi vẫn mở toang cửa và hít thật sâu.

Dọc đường, tôi quẳng hết số chanh cam trong túi vào thùng rác. Aspirin thì tôi vứt vào cái thùng tiếp theo. Tôi chợt mong mình ốm thật nặng, sau đó là trốn đi đâu đó để không ai có thể tìm thấy. Để ôm con gấu nhung từ hồi bé vào lòng và trốn trong một mảnh vườn hoang vắng nào đó ở xa thành phố. Tôi không đủ sức để thay quần áo, cứ thế thiếp đi trên đivăng. Tôi mơ thấy con gái anh nhìn thấy tôi, nó sợ quá bèn trốn trong tủ và chơi với con gấu nhung, nó lấy dĩa moi hai hạt cườm đen ở mắt gấu ra.

Hơn sáu giờ tối tôi mới dậy. Tôi đốt vé đi Brussel trong lavabô. Sau đó rút dây điện thoại ra. Trước đó tôi đã gọi thợ mộc đến thay khoá cửa. Ngày hôm đó tôi đã quyết định khi nào khỏi ốm, tôi sẽ tìm cho mình một người đàn ông khác. Và tôi sẽ có bầu ngay với anh ta. Điều đó sẽ chắc chắn hơn cả việc thay khoá cửa. Những ngày, những đêm Brussel của tôi cứ qua đi, và tôi đi từ giai đoạn "tại sao anh lại có thể làm một việc hèn hạ như thế đối với mình" đến giai đoạn "nhưng anh đã làm gì hèn hạ đối với mình cơ chứ?". Tôi đã tưởng tượng ra những gì? Rằng anh về nhà với vợ rồi họ chơi cờ vua hoặc xem những tấm ảnh từ thời trẻ suốt đêm ư? Tôi đã tự vẽ một sơ đồ tâm lý, trong đó vợ anh gần như là mẹ anh. Không tình dục. Chưa bao giờ tôi hỏi anh có ngủ với vợ không. Đơn giản là tôi chủ ý cho rằng một khi anh đã để trong tôi cái chất lỏng thân thiết đó của anh thì việc anh để nó trong một người phụ nữ khác là một việc độc ác. Đặc biệt là trong một phụ nữ thần thánh, không tình dục như vợ anh. Và khi chị ta khó nhọc lách qua tôi trong cái hành lang hẹp, chạm bụng mình với đứa con của anh trong ấy vào bụng tôi, tôi cảm thấy như bị ai đó gí cái bàn là nóng bỏng với dòng "Joanna 30.12.1978" vào rốn. Giống như người ta đánh dấu cừu hay bò. Vợ anh là một phụ nữ đẹp. Nhưng đẹp như tôi nhìn thấy ở phòng khám, ngay trước kỳ sinh nở thì đã khiến tôi phải đau đớn.
Khi cái trận cúm Brussel qua đi, tôi đã đi săn lùng "những người đàn ông khác".

Chính xác tám mươi hai ngày sau hôm thay khoá cửa, tôi ra ga Warsaw để đi Torun chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn của báo tôi. Tôi lấy từ ví ra tờ 200 zloty để trả tiền vé nhưng người bán vé không có tiền lẻ trả lại. Tôi quay lại hỏi người đứng sau có thể đổi cho tôi tờ hai trăm đó được không. Anh đứng sau tôi. Lặng lẽ cầm tờ hai trăm từ bàn tay lạnh ngắt vì kiêu hãnh và bối rối của tôi, đưa cho người bán vé và nói rằng anh cũng mua vé đi Torun và muốn lấy chỗ gần tôi. Người bán vé đưa cho anh hai vé và chỗ tiền thừa. Anh xách cái vali của tôi và chúng tôi lặng lẽ ra sân ga.

Và thế là anh lại có chìa khoá vào căn hộ của tôi. Anh lại đến chỗ làm đón tôi đi Hel, đi biển Ustka hay Bieschad. Trong thời gian đó thì vợ anh đẻ cô con gái thứ hai.

Ở anh có gì đặc biệt?

Tất cả mọi điều ở anh đều thực sự đặc biệt. Trong tất cả những gì thấy ở anh, cái mà tôi thích nhất là được nghe anh nói. Anh gọi cho tôi vào buổi sáng, thậm chí cả vào ban đêm, và nói bằng một giọng hưng phấn không thể kìm nén: "Em nghe đây, anh có chuyện này phải nói với em ngay lập tức".

Và tôi biết rằng chỉ bằng một câu duy nhất ấy, anh đã đặt tôi lên trên tất cả. Bởi chính tôi chứ không phải ai khác, được nghe kể về những thành công, những thất bại, những cảm xúc, những kế hoạch hay những suy nghĩ của anh. Trong sáu năm, chưa một lần anh nói với tôi là anh yêu tôi, nhưng cho đến cuối đời, không một "anh yêu em" nào có thể thay thế được "em nghe đây, anh có điều này phải nói với em ngay lập tức". Có một lần trong quán bia, tôi tình cờ được chứng kiến anh tranh luận gay gắt với một người bạn, anh nói rằng sự phản bội bắt đầu khi mà lẽ ra vợ phải là người đầu tiên mà ta muốn nói một điều gì đó quan trọng thì ta lại "khát khao được nói ngay lập tức với một người phụ nữ khác". Sáu năm qua anh không hề phản bội tôi. Thậm chí với vợ anh. Đôi khi anh kể cho tôi về những điều tưởng như hoang tưởng, nhưng lại là những bài giảng thực sự về vật lý hay lý thuyết về vũ trụ. Giống như có lần, khi anh bỗng nhớ đến những "vũ trụ sơ sinh" ấy. Toàn bộ vũ trụ sơ sinh được sinh ra từ khoảng không được hình thành sau Vụ Nổ Lớn hoặc sau sự sụp đổ của một hố đen. Những đứa trẻ sơ sinh được ra đời từ bọt vũ trụ hoặc từ những cặp hố đen, lấp đầy vũ trụ cha mẹ. Chúng chẳng phụ thuộc gì vào họ theo nghĩa của những định luật vật lý chi phối họ. Anh dừng xe lại ven đường và giải thích cho tôi về sự chấp nhận cái vũ trụ đó.

Vào cái ngày 11 tháng 9 ấy, anh đến nhà tôi và chúng tôi ngồi im lặng trên sàn nhà, mắt dán vào màn hình và bỗng cảm thấy mình chẳng hiểu gì về thế giới. Anh sợ. Anh ngồi sau lưng tôi, ôm tôi thật chặt và ngả đầu vào gáy tôi. Anh run. Và nói bằng một giọng tắt dần. Tôi yêu anh cả vì lẽ đó nữa, là anh có thể sợ như vậy và không xấu hổ khi để cho tôi biết điều đó. Anh, người lãnh đạo hàng trăm con người với tính nghiêm khắc đến độc đoán, nhưng công bằng và trung thực một cách thái quá. Anh, người không bao giờ đồng ý ngồi ở chỗ của sếp khi chỉ cần có một điều gì đó không ổn, anh lập tức đòi cầm lái và tự mình ngồi sau vôlăng.

Không một người đàn ông nào mà tôi từng biết lại sợ hãi đẹp như anh. Tôi không bao giờ quên được, vào cái ngày 11 tháng 9 ấy, lúc anh đứng dậy và lần đầu tiên anh gọi điện cho vợ từ nhà tôi. Và mặc dù tôi đã muốn khóc khi nghe anh nói " Joasiu ..." (cách gọi Joanna thân mật - ND), tôi vẫn cảm thấy điều đó thật đẹp và nếu như anh không làm thế, có lẽ tôi đã không tôn trọng anh như tôi vẫn tôn trọng anh.

Trong những khoảnh khắc ấy, tôi muốn là tất cả đối với anh. Và không bao giờ để anh phải mất lòng tin hay thất vọng.

Có một lần, trên bãi biển ở Hel vào lúc trời hửng sáng. Chúng tôi ngồi ngoài hiên, mê mẩn nhìn về phía chân trời. Cho tới bây giờ tôi vẫn không biết, buổi sáng hôm ấy, rượu hay Chúa đã đẩy mặt trời lên khỏi đường chân trời đẹp đến thế, để tôi bỗng cảm thấy gắn bó với anh vô cùng. Đã có khi nào trong mối quan hệ với một người đàn ông, bạn bỗng thấy có một mối ràng buộc thần bí và thiêng liêng giữa hai người? Tôi đã cảm nhận được tất cả, ở đó, ở cái hiên nhà bừa bộn ấy ở Hel. Và có lẽ vì vậy mà tôi bỗng đủ can đảm để nói:

- Ước gì em được là người đàn bà duy nhất của anh. Duy nhất! Anh hiểu không? Và biết chắc rằng cả sáng mai, cả thứ hai tuần sau và cả vào lễ Giáng Sinh em vẫn sẽ có anh...

Tôi khóc. Anh nghiêng đầu. Co người lại như thể những điều tôi vừa nói là một cú đấm và anh đang chờ những cú đấm tiếp theo, và người cứ cứng đờ ở tư thế ấy. Một lát sau, anh đứng dậy và đi ra phía biển. Tôi ngồi không thể nhúc nhích. Anh trở lại, chạm vào đầu tôi và nói khẽ: "Tha lỗi cho anh".
Khi quay về từ Hel, tôi hiểu rằng anh sẽ không bao giờ chỉ là người đàn ông của tôi. Và tôi cứ cam phận như vậy cả đến hôm nay nữa.

Mai là sinh nhật tôi. Và kỷ niệm ngày cưới của anh. Đã chín tuần nay tôi không có kinh. Tôi sẽ có đứa con của anh. Tôi đã không còn sợ cái nhẫn ấy nữa. Ngày mai tôi sẽ nói với anh, rằng không thể mua hai bó hồng để tặng cho hai người đàn bà ở hai vũ trụ khác nhau, tách rời nhau.

Chắc chắn anh sẽ hiểu và sẽ rời bỏ chúng tôi. Nhưng dù thế thì vẫn còn lại trong tôi cả một vũ trụ.

Vũ trụ sơ sinh.

Sunday, August 06, 2006

Cô đơn trên mạng - Janusz Leon Wis'niewski

p.57-p.59

…Tốt thôi, Mạng cũng được - anh nghĩ. Anh đã để lại đằng sau toàn bộ cái giáo phái này từ lâu rồi. Anh sử dụng Mạng viết hoa từ cái thời Internet còn là một bí ẩn tuyệt đối, một Kamasutra trí tuệ, chứ đâu phải là những cái nhấn chuột vào những chữ hoặc hình ảnh màu mà phần lớn là màu xanh lam. Nhưng cái chương trình mà cậu nghiên cứu sinh giới thiệu thì quả là thú vị. Nó có tên là ICQ. Các tác giả phiên âm các chữ cái tiếng anh I, C, Q giống hệt như câu tiếng Anh I seek you, có nghĩa là “tôi tìm bạn”. Những người có trong máy tính của mình chương trình ICQ – và tất nhiên là phải đang nối Mạng – có thể tìm thấy nhau thông qua ICQ. Trong máy tính của mình, họ lên danh sách những người bạn mà họ muốn tìm, còn ICQ sẽ cho họ biết những người bạn này vào cùng thời điểm đó có đang ở trên mạng hay không. Điều này giống như là khi ta bước vào một phòng nào đó và nhìn quanh xem ai trong số bạn bè cũng có mặt ở đó. Chỉ có điều phòng ở đây là cả thế giới. Việc ai đó ở Sydney, người khác ở Dublin, còn người khác nữa lại ở một góc xa xôi – Krakow hay Gdansk – là hoàn toàn không có ý nghĩa. Có lẽ đây là điều đáng được sùng bái nhất trên Internet. Tất cả dường như ở ngay bên cạnh.

ICQ điểm danh bạn bè và cho phép trao đổi thông tin với họ. Không có độ trễ. Tức thời. Cuộc trò chuyện thông qua bàn phí là như vậy đấy. Gửi những bức e-mail ngắn, chúng sẽ đến địa chỉ người nhận ngay lập tức. Đây thực sự là mô phỏng một cuộc nói chuyện.

Nhưng ICQ không chỉ là sự trao đổi những thông tin ngắn. Nó làm được nhiều hơn thế nhiều. Ví dụ như chat. Một từ tiếng Anh mà thậm chí cả người Pháp, những người không gọi máy tính là máy tính, cũng phải chấp nhận. Nhưng lại chấp nhận chat, bởi chat chi có thể được gọi như vậy, để thể hiện cái mà nó thể hiện. Có nghĩa là “tán gẫu”, nhưng trong Internet đây là cuộc nói chuyện thực. Không biên giới. Trong trường hợp ICQ, điều này được thể hiện như sau, màn hình máy tính được chia làm hai phần. Mỗi người đối thoại có một nửa màn hình và viết phần nội dung của mình. Mỗi người đều nhìn thấy quá trình viết của người kia. Sự vội vàng của anh ta, lỗi viết của anh ta, sự chờ đợi của anh ta. Có thể điều này không được như nghe thấy sự run rẩy của giọng nói, nhưng cũng rất cảm động. Thêm vào đó, ta không thể rút lại bất cứ điều gì. Không thể phủ nhận một cách thô thiển kiểu “tôi đâu có nói điều đó”. Tất cả đều được ghi lại. Có thể quay lại đầu màn hình và đọc lại tất cả. Và cuối cùng, quá trình chat có thể được ghi lại trong ổ cứng máy tính, in ra hoặc thậm chí gửi e-mail đến bất cứ địa chỉ nào trên thế giới. Do đó mà với nhiều người, chat là cuộc trò chuyện không thể thay thế. Có giá trị về mặt nguyên tắc. Giống như bản ghi lời khai hay ghi âm phỏng vấn. Mỗi lời thổ lộ, mỗi điều dối trá, mỗi lời hứa hẹn đều có thể được gọi lại. Ngoài ra, để bắt đầu buổi trò chuyện, bạn có thể ở bất cứ đâu. Chỉ cần có máy tính, Internet và chương trình cho phép thực hiện chat. Một chương trìn như vật có thể là ví dụ như ICQ. Có cả những chương trình khác nữa. Rất nhiều. Khoảng cách không giữ vai trò quan trọng. Tín hiệu trên Mạng truyền đi với tốc độ ánh sáng.

Ý tưởng về ICQ thật thiên tài. Tất cả những ý tưởng thiên tài đều khởi nguồn từ những nhu cầu cơ bản nhất. Ở đâyu nhu cầu cơ bản là sự liên hệ không giới hạn. Khi thấy rằng có thể chinh phục được khoảng cách nhờ vào Internet, thì một cái gì đó như ICQ chỉ còn là vấn đề thời gian. Bởi con người từ khởi thủy đã thích liên hệ với nhau…



Nó có tên là ICQ. Các tác giả phiên âm các chữ cái tiếng anh I, C, Q giống hệt như câu tiếng Anh I seek you, có nghĩa là “tôi tìm bạn”. Tôi vẫn thường đọc ICQ như I see you - Em thấy Anh hay Anh thấy Em, hay đại loại như thế - và tôi thích đọc nó như thế hơn.

Có một lúc tôi đã thắc mắc vì sao lại là ICQ chứ không phải MSN hay YM, hay những trình IM khác. Tôi đã đọc lại nhiều lần. Và tôi đã nhớ lại về nó, ICQ. Có một lúc nào đó tôi đã dùng nó. Nhưng rồi lại thôi. Có lẽ ông là một người thật sự am hiểu mọi ngóc ngách của cái thế giới Mạng - mà ông viết hoa - này. ICQ là trình nhắn tin duy nhất, tới giờ này, tôi được biết, mà ở đó Mỗi người đều nhìn thấy quá trình viết của người kia.

Tôi đã cố tìm một tấm ảnh minh họa cho đoạn tiểu thuyết này. Một tấm ảnh với từ khoá Internet. Đột nhiên tôi nhận ra người ta không chụp hình được "nó". "Nó" tồn tại. "Nó" hiện hữu. Nhưng không thể chụp hình được. Chỉ có thế thôi - không thể chụp hình được. Tôi ghét cái cách người ta hay minh hoạ về "nó" như một cái mạng nhện, chằng chịt; hay một tấm lưới với đầy những mắt xích. Internet - Mạng - viết hoa - đối với tôi không như thế. "Nó" là một con đường, rất thẳng thì đúng hơn...

Saturday, July 15, 2006

Địa chấn

Nhặt từ TTCN - Tặng Kỳ :)

Những ngày này Bangkok ướt sũng nước của những cơn mưa bất chợt ghé ngang thăm thành phố. Mưa sầm sập đổ về, mịt mù, dữ dội như mưa cao nguyên; ngúng nguẩy, dằng dai như mưa xứ Huế, có khi kéo dài đến hết nửa đêm.

Thứ sáu, cô bạn cùng phòng than thở thế này thì hết cả hẹn hò; cưa cẩm nhưng vẫn ngúng nguẩy vơ vội mớ tài liệu, mỹ phẩm lỉnh kỉnh trên bàn, tống vào cái túi xách to đùng như cái vali - một kiểu túi xách thịnh hành của các cô Nhật balô - rồi cuống cuồng rời khỏi phòng, không quên ngoái đầu lại, mặt tươi roi rói “Nice weekend”.

Lam cười, cái cười đáp lễ hắt ra lạnh lùng như những cơn mưa đêm giữa hạ rồi vơ vẩn nhìn ra phía bầu trời ngoài kia.

Qua ô kính dày cộp này, mưa cũng như nắng Bangkok lúc nào cũng đục đục, trầm trầm một màu xanh nhờ nhờ xám, sáng cũng như trưa. Chớp chói lòa xé toạc mây trời xám xịt đang quần tụ, soi tỏ phía dưới kia, xe chen lẫn người, những chiếc xe nhỏ tí xíu như những hộp diêm đang trật tự tìm đường về nhà trong những cơn gió vần vũ đất trời. Chỉ còn một mình Lam trong văn phòng vắng lặng, tiếng máy lạnh chạy rì rì, ngoài kia mưa sầm sập đổ xuống. Bất giác, Lam liên tưởng đến ngày tận cùng của thế giới loài người mà cô thường đọc trong Kinh Thánh khi còn nhỏ chắc cũng chỉ đến mức này thôi. Bất giác, cô nhớ đến anh.

* * *

Lam còn nhớ cái lần duy nhất Sài Gòn nếm mùi địa chấn, từ tầng 10 của tòa cao ốc đang làm, cô thản nhiên áp mũi vô mặt kính, ngắm dòng người ào ạt chạy ra từ phía các cao ốc bên cạnh, đứng xa mà chỉ trỏ, thất thần không dám vào mà tự nhủ: chết à, chết đâu có dễ thế. Buổi tối ấy cô về, kể cho mẹ nghe về cơn dư chấn khiến cô đang đứng với tay lấy cuốn tài liệu trên đầu thì loạng choạng muốn ngã. Cả công ty chỉ có mình cô không chạy.

Từ tầng 10 xuống tới tầng 1, chạy thang bộ nếu building có sập thì chạy mấy cũng chẳng thoát. Mà càng ở tầng dưới bị đè càng nặng, chi bằng cứ đứng yên tại chỗ có khi may mắn thoát được, mà không thoát thì bố mẹ cũng biết chỗ để tìm ra con.

Đấy là Lam suy luận thế. Mẹ cô lắc đầu, thở hắt ra, không bàn luận, chẳng biết bà lắc đầu vì lo lắng những cơn địa chấn có còn tiếp diễn nữa hay không, khi mà đứa con gái duy nhất trong nhà ngày nào cũng vén váy lên tầng 10 của tòa building sát sông Sài Gòn, hay vì hết ý kiến với lý lẽ “chán cơm thèm đất” của một đứa con gái cứng đầu như Lam. Cũng như bà đã không thể hiểu tại sao nó lại chấm dứt, hết yêu một người tốt, hoàn hảo nhẹ nhàng đến vậy. Người hoàn hảo đó là anh.

Nhưng Lam không chạy không hẳn vì cái lý lẽ vớ vẩn mà cô nói với mẹ, mà kỳ thực là cô nghĩ đến anh. Ở ranh giới giữa sự sống và cái chết, Lam chỉ nghĩ đến một người duy nhất, một điều duy nhất: đó là anh. Một ý nghĩ bình thản, song rất “sến”, rằng nếu cô bị chôn vùi bởi đống hổ lốn sắt thép, bêtông và kính an toàn này, liệu anh có ngày ngày đến ngóng tìm lúc xác cô được đem ra ánh sáng?

Liệu anh có khóc vì thương nhớ hay sẽ quên cô đi dễ dàng giống như thay một chiếc điện thoại đã quen dùng bằng chiếc mốt nhất mới ra lò với một chút luyến tiếc?

Tưởng tượng đến đấy cô bỗng mềm oặt người, cho dù có nặn óc ra thì cô cũng không tưởng tượng được gương mặt anh với những giọt nước mắt. Bởi cô chỉ thấy anh cười, luôn cười, vui và thành đạt. Cơn địa chấn ấy chẳng nảy sinh chuyện gì, và Lam dĩ nhiên cũng chẳng chết để biết liệu anh có khóc thương mình. Công việc vẫn tiếp diễn, hằng ngày cô vẫn leo lên tầng 10 của tòa building xanh xanh sát sông Sài Gòn, đôi khi lơ đễnh ngó xuống mặt đường và đôi khi nghĩ đến anh.

* * *

Lam còn nhớ lần đầu tiên gặp mặt trong một cuộc gặp gỡ của toàn giới marketing và quảng cáo thành phố, anh khi ấy đã có tiếng tăm, còn Lam chỉ là một newbie (1) mới vào nghề, đang bắt đầu nổi. Cô có biz-card (2) của anh và mối quan hệ bắt đầu bằng một tin nhắn.

Một tin nhắn hết sức vẩn vơ và dở hơi nhất mà Lam có thể nghĩ ra được, không bằng cách hỏi thăm (xin lỗi, cũ xì và tẻ nhạt, chỉ trả lời một câu là đã hết chuyện), cũng không phải một tin nhắn nặc danh kiểu anh không biết em, nhưng em biết anh, mà là câu chuyện về bụi hoa trước cửa. Thế mà anh gọi lại. Thế mà họ quen nhau. Rất nhanh. Và đến với nhau. Cũng nhanh tương tự.

Sau này có một lần anh bảo, anh gọi lại (mặc dù trước đó chẳng khi nào anh làm những chuyện rỗi hơi như thế) vì đó là một tin nhắn rất lãng mạn, trong sáng và khác biệt, nó khiến anh tò mò. Mới và khác biệt là hai tiêu chí đầu tiên trong ngành quảng cáo, Lam bất giác nhún vai, mỉm cười.

Sự cưa cẩm giữa hai con người ăn quảng cáo, ngủ quảng cáo và nói chuyện cũng không quên quảng cáo cũng không kém phần ly kỳ. Từ giai đoạn bạn bè chuyển sang cưa cẩm nhau bằng email, chàng “đi trước” bằng nước cờ “email tình” bắt đầu bằng hai chữ “Dear em” sặc mùi biz, bởi tiếng Việt có quá nhiều từ, từ nào cũng quá biểu cảm mà cái đầu tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt của anh không chọn ra được thán từ nào cho phù hợp với cái ngưỡng “không phải bạn, cũng chưa phải yêu” giữa hai người (anh vốn rất cẩn trọng mà).

Và rồi cái chữ “Dear em” đó luôn hiện diện trong tất cả những email tình về sau, cả trong những cái cuối cùng anh gửi lúc chia tay. Lúc nào cũng chỉ “dear em” và “dear em” đậm tính lịch thiệp và ngắn gọn, rõ ràng tối đa như con người anh vậy. Và mặc dù không có cảm tình với mấy chữ cái vô hồn ấy, nhưng Lam nhún vai chấp nhận, cũng như cô nhún vai chấp nhận tất cả những thói quen, những lý do của anh sau này cho đến khi họ xa nhau mãi mãi.

Mà tình yêu thời Internet, mobile, message giữa hai con người, một người cực kỳ bận rộn và một người khác cũng bận rộn không kém, tất nhiên cũng khác biệt. Hiếm có những cuối tuần họ bên nhau trọn vẹn, đầy đủ. Những đứa em Lam quen với tiếng chuông điện thoại lúc nửa khuya, quen thấy chị chúng nhấc máy, thì thầm vài câu khi lâu, khi mau rồi mới lên giường ngủ. Ấy là lúc anh mới về nhà từ văn phòng.

Đó là những buổi tối, chàng ngồi trong một cuộc họp, nàng ngồi bên đối tác, tin nhắn chiu chíu qua lại, mà 2/3 những tin nhắn ấy là nói về công việc “Tối nay anh về muộn, có buổi họp triển khai tung sản phẩm mới”, nàng đáp lại “Em cũng đang ngồi với cánh Y, tháng sau event lớn mà chưa tìm được ý tưởng. Nhớ ăn tối nhé, khi nào về tới nhà nhắn cho em”. Hay “Tuần sau công ty anh có tiệc. Thứ năm, 7g30 anh đón trước cổng nhé”, đáp lại “Em sẽ thu xếp, mặc casual hay evening dress đây?”, “Evening dress, tiệc trọng đại. Kiểu cái váy đen lần trước là phù hợp, nhưng em nên chọn một cái mới, cái đó đã mặc hai lần còn gì”.

Họp hành, brain storm, present... hình như hút hết ngôn từ của họ, lắm khi chàng nhấc điện thoại gọi, biết đầu dây bên kia nàng nghe nhưng rồi lại im lặng vì cũng chẳng biết nói gì. Rồi điện thoại cầm tay bỗng rung lên bần bật “Hôm nay đi làm, em thấy rất nhớ anh”, chàng nhắn lại “Anh cũng vậy, hơn hai tuần không gặp rồi đấy, tối mai anh làm ra sớm, cùng đi ăn tối nhé” hay “Này, em còn thức không”,

“Em còn, đang làm nốt proposal mai gửi cho khách hàng”, “Anh cũng vậy, cuối năm nhiều việc quá. Anh làm tiếp đây, nhớ ngủ sớm nhé” và sau đó là một hàng chữ X dài loằng ngoằng hiện ra trên cái màn hình xanh loét: biểu tượng của nụ hôn, cũng là biểu tượng của việc chàng muốn tập trung vào công việc, không tiếp tục chat chit nữa.

Những nụ hôn không nồng nhiệt, cháy bỏng tham lam như của các chàng trai mới lớn, mà kiểu như những dấu ấn, những dấu ấn hình chữ X, dấu ấn của bước tiến mới trong mối quan hệ, không lãng mạn dài dòng kiểu tặng hoa rồi ngập ngừng “anh yêu em”. Anh không có thời gian, nên mọi việc nhanh gọn, súc tích thôi. Còn Lam, cô chấp nhận những khiếm khuyết thiếu lãng mạn ấy, bởi con người anh quá hoàn hảo rồi còn gì, không nên đòi hỏi thêm nữa.

Anh là một con người nhất quán từ công việc cho đến tình yêu. Bằng chứng là anh vẫn không thoát khỏi ám ảnh của “bệnh nghề nghiệp”, biến tất cả những thứ xung quanh mình, dù là đồ vật hay kể cả Lam, thành thứ để định vị mình. Anh nghĩ, tình yêu cũng như một campaign (3), mà người yêu, nôm na, thì cũng như một sản phẩm mới cần launching (4) trong campaign ấy, với các tính năng phù hợp cho từng hoàn cảnh, môi trường khác nhau.

Chẳng hạn như sữa A của bên anh dành cho trẻ em dưới 3 tuổi, đối tượng mua hàng là phụ nữ, sống ở thành thị, thu nhập ABCD, học vấn cao, có văn hóa... thì Lam cũng là tích hợp của nhiều chức năng kiêm nhiệm khác, cho phù hợp với một marketing manager như anh: 35 tuổi, thu nhập A, học vấn cao, thành đạt, lịch lãm. Bởi thế nên cô cần phải đẹp và hợp mốt như người mẫu mỗi khi đi cạnh anh trong các buổi tiệc. Luôn duyên dáng, thông minh và nổi bật trong những buổi tiếp tân.

Cô hơn hẳn hay chí ít cũng ngang tầm sự nghiệp với những đồng nghiệp nữ trong giới để xứng tầm với anh, đấy là điều anh cần. Anh không mất công tưởng tượng ra cảnh cô tất bật trong bếp hay dịu dàng, nhẫn nại chờ anh bên bữa cơm nóng sốt ấm cúng kiểu gia đình. Cái ấy đã có nhà hàng lo. Anh cũng không cần cô phải nâng khăn sửa túi, là lượt áo quần, việc đó đã có người giúp việc làm hết, bởi họ chuyên nghiệp hơn Lam.

Cái anh cần là lúc nào cũng là một Lam trẻ trung, vẹn toàn, mặt mày tươi tắn, ăn mặc hợp mốt, công việc trôi chảy và đối đáp thông minh. Anh đã quen với sự ngưỡng mộ và những gì hoàn hảo mà Lam là đại diện tiêu biểu cho những thứ ấy...

Còn Lam, hình như cô cũng không yêu anh theo kiểu thông thường, kiểu “yêu nhau chỉ vì yêu nhau”. Cô nhìn thấy nơi anh một người đàn ông tuyệt vời. Một người mà khi nhắc đến tên và cái title theo sau, thì không chỉ lũ bạn của cô mà hầu như cả giới phải lác mắt nể phục.

Một người đàn ông mà khi mở cửa xe cho cô bước xuống sẽ khiến bao con mắt ghen tị đến phát rồ, chỉ có thể thốt lên rằng xứng đôi vừa lứa. Anh là hiện diện của sự thành đạt, lịch lãm và hoàn hảo đến từng milimet, không tì vết, cũng chưa bao giờ biết đến sự thất bại, mệt mỏi, mà sự hoàn hảo thì ai lại chẳng một lần mơ tới.

Tuyệt vời để làm gì, làm chồng ư? Lam lắc đầu nghi ngại. Có vắt óc cô cũng không tưởng tượng ra được cảnh hai vợ chồng nấu ăn, đùa giỡn với nhau trong bếp. Anh không phải mẫu người của những việc cỏn con ấy. Vòi nước bị hư: kêu thợ. Bóng đèn nhà cháy: kêu thợ. Thời gian ấy để anh thư giãn, hay nghĩ ra những ý tưởng để kiếm được nhiều tiền hơn.

Thế cũng có nghĩa là cái cảnh tưng tiu nựng nịu một thằng bé thơm thơm mùi sữa, các công đoạn khác như tắm con, cho con ăn, đưa đón con đi học... như các ông bố kiểu mẫu trong các thước phim quảng cáo cho sản phẩm sữa mà anh đang làm thì lại càng bó tay. Anh có “chuyên” những thứ ấy đâu. Lam lắc đầu, thôi không nghĩ đến nữa. Yêu nhau, bên nhau và tự hào về nhau, thế là đủ.

* * *

Họ chia tay nhau, lịch lãm và văn hóa bằng một sự im lặng kéo dài, khi những email “dear em”, những tin nhắn sặc mùi biz ngày càng thưa dần, những cuộc hẹn hò kiêm công việc, tiệc tùng biến mất hẳn, bởi anh quá bận rộn, còn Lam bỗng nhiên thấy mệt mỏi. Ấy thế mà sự chia tay ấy cũng đủ gây nên một cơn địa chấn làm rung rinh hai bên gia đình và bạn bè đồng nghiệp. Sao thế nhỉ, chúng nó đẹp đôi thế cơ mà, mà lại hợp rơ nữa, làm gì cũng như song kiếm hợp bích, có thấy cãi nhau bao giờ đâu.

Anh quá hoàn hảo mà Lam thì cũng nào có khiếm khuyết gì. Mà rồi thì cơn địa chấn ấy cũng qua, dù khi đi qua, nó cũng kịp để lại vô số những câu chuyện ngồi lê đôi mách, những bàn tán đoán già đoán non của người trong giới. Mặc kệ, họ vẫn im lặng.

Gặp nhau, vẫn trong một cuộc gặp toàn giới, anh lại sánh vai bên cô, bước đi trong những ánh nhìn ngưỡng mộ trai tài gái sắc. Gần một năm trôi qua, anh chưa có vợ, chưa gắn bó với ai, cô biết, và cô cũng vậy. Anh đề nghị “hay mình quay lại với nhau đi”, “vì cái gì”. Anh nhún vai, cười “Ít nhất là vì mình hợp nhau”. “Vâng, hợp nhau đấy, nhưng em thấy mệt mỏi, không thể phù hợp kiểu anh là doanh nhân thì dùng P910i, mặc Pierre Cardin thì phải đi kèm viết Montblanc, tình yêu phải khác”. “Em muốn khác thế nào? Suy nghĩ nhé, trong ba tuần”. Anh lại cười nhẹ rồi nâng cốc chạm khẽ vào ly cô, nụ cười nửa ấm nồng, nửa xa cách và lịch thiệp, cũng hoàn hảo y như con người anh vậy.

Lam gửi tin nhắn trong một đêm khuya khoắt mấy ngày sau buổi gặp “em đã từng yêu anh”. Màn hình điện thoại chớp xanh lè rồi im lặng, vì anh đang ngồi trên máy bay cho một chuyến công tác châu Âu dài ngày - đúng bằng cái hạn ba tuần anh đề nghị. Một chuyến đi không từ biệt, không nhắn nhủ, cũng không căn dặn yêu thương hay nài nỉ ấm nồng dù anh đề nghị với cô về một tình yêu.

Anh là thế, mãi mãi vẫn là anh, tình yêu với anh, có lẽ, cũng chỉ như một nhu cầu, kiểu như đến bữa thì phải ăn, còn người yêu thì như một sở hữu có thể thay thế, không dùng được cái này thì sẽ có cái kia, kiểu không xài P910i thì cũng có O2 mini. Anh quá quen với sự thành đạt, trơn tru trong công việc nên tình yêu với anh, không cần cố gắng, chẳng phải theo đuổi. Với anh, những “chuyện nhỏ” như tình yêu là thứ tất phải tốt đẹp, tuân thuận theo ý anh muốn, và khi anh cần là tất phải có. Anh dành cho công việc quá nhiều thời gian nên trong tình yêu anh không đầu tư, sâu sắc mà chủ yếu là ngại dấn thân.

Và vì anh đã tắt điện thoại những ngày sau đó nên không thể biết rằng Lam đã gói ghém mọi thứ, bước qua lời đề nghị “trở về với nhau” của anh mà cô đã suy nghĩ rất lung, rời khỏi thành phố ồn ào nắng gió phương Nam này, nhẹ nhàng như khi cô bấm phím send tin nhắn cuối cùng “em đã từng yêu anh, nhưng mọi thứ có lẽ đã muộn rồi”.

Một chuyến đi chỉ được quyết định vào giờ chót, tới một môi trường mới được đánh giá là năng động và chuyên nghiệp nhất trong toàn khu vực. Cô không kỳ vọng vào sự thăng tiến, cũng chẳng mong gặp gỡ những người đàn ông lý tưởng ở cái đất nước sôi động bậc nhất Đông Nam Á này. Cô đi chỉ để thử thách tình cảm mình. Để cả hai tìm ra được một lý do mới, cho việc tại sao họ đã đến với nhau, tại sao họ muốn quay trở lại.

Nhưng không phải là những lý do cân đo đong đếm được kiểu vì không tìm được ai hơn cô, cũng không phải vì niềm tự hào, hãnh diện khi có một người như anh bên cạnh. Tình yêu phải khác. Một tình yêu của thời hiện đại, của trai tài gái sắc, cho dù có tạo ra địa chấn, cho dù có đầy đủ điều kiện, hoàn hảo và song toàn, thì vẫn cần những điều căn bản.

Mà điều căn bản ấy là gì, Lam không biết, mà anh, có lẽ cũng chưa tìm ra.

Truyện ngắn của LAM KHÊ

(1) người mới vào nghề
(2) Biz (business), biz-card: danh thiếp kinh doanh
(3) đợt tung sản phẩm mới
(4) chiến dịch

Hôm trước Th. gửi cho mình cái truyện ngắn này. Nó nói thấy sao giống nó, chỉ có điều chắc nó không xinh như cô gái trong truyện. Không biết nói gì với nó vì không lẽ nói là mình thì thấy nó hoàn toàn không giống hoàn cảnh câu chuyện này chút nào, rằng thằng H với nó không phải là "1 đôi phù hợp" như khái niệm trong câu chuyện này. Đơn giản thôi, vì nếu là một đôi như thế nó đã chẳng tốn nhiều nước mắt đến vậy. Cái nó có là tình yêu, vẫn là cái thứ tình yêu chưa nhuốm "bụi trần", toan tính và đủ thứ khác. Thứ tình yêu trong sáng mà đôi khi không dễ tìm lại được Th. à. Enjoy những ngày cuối đi!

Th. gửi mình vì thấy câu chuyện nói về... quảng cáo, c'est tout! Cưng ơi! Đôi khi không hiểu cưng có còn là nhỏ bạn thân của con nhỏ này không nữa. Buồn cưng nhiều lắm, nhưng khỏi nói, chắc chắn cưng không biết rồi. Thật ra thì đã đọc truyện này rồi, đọc rất kỹ trước khi cưng gửi. Dường như ai cũng có thể thấy phản phất bản thân mình trong đó, chỉ là thấy ở góc nào thôi.

Kỳ à, đọc qua có thấy tui và K ở chỗ nào trong câu chuyện không? Tui thì thấy chính mình ở cái thái độ lựa chọn, chọn 1 người phù hợp để đi bên cạnh mình, thành "một đôi phù hợp", chứ không phải lựa chọn tình yêu. Tình yêu không phải là cái để lựa chọn. Yêu là yêu thôi mà :)


Friday, June 30, 2006

Kỳ nghỉ hè ở Venice


“Một tâm hồn không hoàn hảo, hay nghĩ đến những tình yêu không hoàn hảo, và lựa chọn những kết cục không hoàn hảo”.

-*-

Tôi viết câu chuyện này khi một mùa dài đã qua và Venice dường như chỉ còn ở lại trong ký ức. Người ta không thể xóa đi hình ảnh của bất kì ai trong ký ức; cái gọi là “quên” có lẽ chỉ là sự chấp nhận với nụ cười dịu dàng hoặc chua chát. Tôi đang rất nhớ em và tôi cầm bút lên… Em trở về thật gần, Venice cũng trở về thật gần…

Năm đó chúng tôi là hai sinh viên của trường Mỹ Thuật sau khi tốt nghiệp được đi thực tập ở Italia. Và chúng tôi chọn Venice làm nơi hoàn thành tác phẩm cho khóa học. Đêm cuối cùng ở Firenze, tôi và em ngồi thật lâu bên cốc cappucino nghi ngút khói:

- Tại sao em chọn Venice hả Cá Khô?

- Vì em chưa biết yêu! Venice sẽ giúp em… Còn anh?

- Anh thì ngược lại. Vì anh yêu rồi!

Cười.

-*-

Chúng tôi là anh em họ. Một quan hệ gia phả lằng nhằng mà người ta vẫn gọi đùa là “họ hàng đại bác bắn ba đời không tới”. Thế nào nhỉ? Ba em là anh ruột cô Phương, cô Phương đám cưới với chú Danh vốn là em trai mẹ tôi. Vậy đấy chúng tôi trở thành anh em. Chúng tôi cùng tuổi, lớn lên cùng nhau, học cùng trường và mơ ước như nhau. Đã có lần tôi và em tự hỏi “không biết từ bé đến giờ, đã có gì chúng tôi không gán chữ “cùng” vào hay chưa?” Thế giới của em có những gam màu nóng ấm, chủ nghĩa siêu hiện thực của Van Gogh, khúc mùa xuân xủa Vivaldi, sữa đậu nành và kẹo lạc 2000 đồng một gói to đùng. Thế giới của tôi đa số lại là gam màu lạnh, cảm giác cô quạnh trong tranh của Dali, nhạc Trịnh không tình ca… và em. Thấy giáo của chúng tôi rất ít khen, nhưng khi đã khen thì thường dùng những lời xa xỉ. Có lần thầy bảo: “Xem tranh của hai đứa xong, mới cảm thấy đủ hai mặt của một tâm hồn”. Chúng tôi sướng râm ran. Mỗi lần như thế lại tự thưởng cho mình bằng một buổi chiều ngồi thật lâu trong quán nước trước trường và… bóc vé số. Chúng tôi chẳng trúng được bao lần, mà cũng may là thầy chẳng mấy khi khen.

Tam Nguyên. Lần đầu tiên tôi nhớ ra em có cái tên ấy là khi chúng tôi vào lớp 1. Cô giáo gọi: “Nguyễn Tam Nguyên”. Cả lớp im lặng. “Nguyễn Tam Nguyên”. Cô giáo lập lại. Em ngồi bên cạnh thì thầm: “Hình như cô gọi em anh ạ!” – “Phải là Cá Khô chứ, Nguyên nào?”. Đến khi cô giáo gõi tên hết cả lớp, em mới đưa tay hỏi: “Thưa cô, cô chưa gọi con ạ! Tên con là Cá Khô”. Đến tận bây giờ em vẫn luôn yêu thích cái tên ấy. Nó là một phần tuổi thơ trong em, trong tôi. Tôi biết chỉ có mỗi tôi gọi em bằng cái tên ấy, chỉ mỗi tôi và em biết nó quý giá bíết bao nhiêu…

- Em ngoan, đừng ốm nữa nhé! Phải ăn nhiều vào! Mẹ anh bảo ai không ăn nhiều sẽ như con cá khô thôi.

- Thế cá khô xấu lắm hả anh?

- Anh chả biết nhưng mà mẹ bảo hôi lắm! Em mà ốm nhiều sẽ… hôi như cá khô đấy…

-*-

Chúng tôi thuê được một căn phòng áp mái khá rộng rãi đủ kê hai cái giường và ngăn với nhau bằng một bệ gỗ sơn trắng, một góc bếp nhỏ với phòng tắm rất xinh. Thoạt đầu chúng tôi rất phân vân không biết sẽ đặt giá vẽ ở đâu. Thế là ý tưởng trải chăn ra đời, như thế có hể quấn lại một góc, tha hồ giăng vật dụng ra nhà. Cũng may lúc chúng tôi đến Venice, trời đã vào mùa xuân ấm áp. Bên dưới tầng trệt là quán cà phê của vô chồng ông bà chủ. Họ là người Pháp, nói được cả tiếng Anh và Ý. Những khi rỗi việc tôi và em thường xuống phụ giúp làm những việc lặt vặt. Đây là một quán cà phê nhỏ, trang trí mộc mạc và không âm nhạc. Những chiều nắng, khách ngồi đầy trên cách “tavolini”, họ nói cười, tán gẫu, tiếng bước chân gõ nhịp trên nền đường lát gạch, tiếng guitar của bác Luciano già… tất cả tạo nên một nét ồn ào rất Venice. Vợ chồng ông bà chủ khá thân thiện. Họ kể cho chúng tôi nghe về quê hương họ, về miền Nam nước Pháp lúc nào cũng tràn ngập nắng, về những cánh đồng cỏ mùa xuân xanh mướt, mùa hè vàng rực rỡ, được cuốn lại thành những lô tròn khổng lồ, đều đặn, nhìn xa như những ổ bánh cuộn phết mật. Tôi hỏi họ “tại sao lại sống ở Venice nhỏ bé mưa rất buồn và nắng thì hiếm hoi?” Họ nhìn nhay và mỉm cười: “Vì ở đây khiến chúng tôi yêu nhau hơn.”

Em vẫn thường hay nói chuyện với bác Luciano bằng vốn tiếng Ý cỏn con của mình. Ông già tóc dài như nghệ sĩ, trắng muốt, đến ngồi bên hông quán cà phê mỗi tuần 3 lần. Ông độc thân, khắc khổ, lúc nào cũng bắt đầu chương trình bằng bản Seranade và kết thúc bằng âm điệu rộn rã cỷa Moliendo Café. Tôi rất thích nhìn em và bác Luciano nói chuyện. Cuộc đối thoại giữa họ luôn luôn bắt đầu bằng những câu tiếng Ý ngắn gọn và suôn sẻ, tiếp đó ông già nói gì đó thật dài, em cười ngơ ngác. Ông ấy hỏi: “Comprendi?” – “No, non comprend o”… Và thế là đoạn hội thoại tay chân bắt đầu. Có một điều đặc biệt là cả hai đều kiên nhẫn một cách kì lạ. Họ có thể hiểu nhau như thế!

- Anh hay nhìn trộm em lắm à?

- Ai bảo em thế?

- Bác Luciano bảo anh cứ hay nhìn em cái kiểu… không giống anh trai của em chút nào – Em cười, mắt hay háy.

- Anh có nhìn trộm em đâu. Anh ngắm em đấy chứ!

Cười.

Cá Khô của tôi hiền lắm. Những cuộc tranh luận của chúng tôi thường kết thúc bằng nụ cười của em. Em cười, có nghĩa là tôi đúng. Đơn giản như thế. Những người ở đây gọi em là “Angelica”, họ bảo em có nụ cười của một thiên thần. Mà đối với người Ý, gọi ai đấy bằng “Angelina” thì có nghĩa là người ấy vô cùng được yêu quý. Tôi cảm thấy cực kì tự hào về em, thậm chí ngay cả khi người ta vỗ vai tôi và bảo: “Cậu có cô em họ thật tuyệt!”

-*-

Chúng tôi bắt đầu thời kì gấp rút chuẩn bị cho tác phẩm báo cáo. Nhưng công việc không đơn giản theo những tiến trình nhất định. Cảm hứng, đó là những gì vừa dễ tìm mà cũng vừa khó tìm nhất. Màu vẽ và cọ không phải lúc nào cũng ngoan ngoãn dưới đôi bàn tay.

- Em bế tắc anh ạ! Venice lãng mạn và đẹp thế, nhưng hình như có ở tất cả trong tranh rồi.

Em đứng hàng giờ trong bảo tàng để ngắm tranh của Canizzo, của Carpaccio, của Jean Luc… ngồi thẫn thờ nghe bác Lucino chơi khúc Lullaby… Và tôi thẫn thờ, ngắm em trong im lặng. Có đôi khi nghĩ lại, tôi ghét cái tình yêu kiểu nghệ sĩ của mình, có lẽ nó không hợp thời chút nào, nó ảo tưởng và trên mây quá chăng? Nhưng lúc đó, ít ra trong tâm trí tôi em cũng là nghệ sĩ, tôi ước em thấu hiểu sự quan tâm đó theo cách của riêng tôi. Nhưng Venice khiến con người ta yêu theo những cách không hoàn toàn giống nhau, ngay cả khi… chúng tôi có cùng một tâm hồn nghệ sĩ. Mà chúng tôi là anh em họ cơ mà nhỉ? - Cười.

- Em gặp anh ấy ở bảo tàng anh ạ! Anh ấy bảo anh ấy thích em cười. Em… sẽ nhớ anh ấy mất thôi.

- Anh ta tốt chứ?

- Có vẻ là thế!

Venice đã dạy cho em điều em muốn. Đó là cảm giác yêu một người. Và Venice cũng đã dạy cho tôi cảm giác mất mát rất xa xôi. Tôi đã bao giờ có em, để có cảm giác em vụt bay ra xa đâu nhỉ? Từ giây phút đó, tôi đã biết thế nào là đi xe đạp ở Torcelllo không em, thế nào là ăn bữa tối không em, thế nào là tâm trạng ngồi nghe bác Lucciano chơi nhạc một mình. Nhạt nhẽo. Thật sự nhạt nhẽo!

- Anh nghĩ là anh ấy có cảm giác như em chứ?

- Anh không biết. Em thử hỏi thẳng anh ta xem.

- Không đâu – Má em đỏ bừng.

- Em… yêu anh ta thật chứ?

Cười.

Chưa bao giờ tôi không mong chờ nụ cười này của em đến thế! Em cười, có nghĩa là tôi đúng…

- Hôm nay bọn em đến Ponticello dei Sighs anh ạ! Anh ấy bảo ở đây nên nói những điều hạnh phúc. Anh ấy đang mong chờ một điều hạnh phúc để thả xuống cầu ngày hôm nay. Anh ấy nhờ em giúp… - Em hào hứng kể. Tôi thấy những tia cười nhảy múa trong mắt em.

- Rồi sao? Anh ta đã hỏi em chứ?

- Vâng ạ! – em níu tay tôi – Anh ơi, em đã là của một người…

Nếu ai đó có thể hiểu… nếu mây, gió, khoảng trời kia, và Venice có thể hiểu…

-*-

Trái Đất vẫn quay, và chúng tôi vẫn là anh em họ.

Venice vẫn đẹp, và chúng tôi vẫn là anh em họ.

Con đường dài bất tận, và cho đến cuối con đường, chúng tôi vẫn là anh em họ.

- Anh ước giá như chúng ta là người Trung Quốc.

Em tròn xoe mắt.

- Khi em buồn, anh ta giúp em vui hơn chứ, Cá Khô?

- Anh ấy ôm em vào lòng và bảo rằng đừng buồn vì em có anh ấy mà. Nhưng tại sao lại là người Trung Quốc hả anh?

- Anh ấy giúp em có cảm hứng cho bài tốt nghiệp đấy ah?

- Vâng ạ, anh ấy khiến em biết tình yêu ở Venice. Tại sao lại là người Trung Quốc? – em nhíu mày.

- Anh ta biết em thích được mua xoài dầm khhi em ốm chứ?

- Biết ạ, nhưng em hết thích rồi, anh ấy bảo không tốt khi ốm. Anh vẫn chưa trả lời mà. Tại sao lại là người Trung Quốc?

Tôi trầm ngâm…

- Người Trung Quốc, anh em họ được phép yêu nhau…

Em nhìn tôi không chớp mắt… Đôi mắt ấy long lanh lắm, hàng mi ấy dường như sắp cụp xuống, khiến thằng đàn ông trong tôi, thậm chí là một thằng nghệ sĩ không thực tế chuẩn bị quay cuồng…

- Anh đùa – Tôi cười vang… nhưng có cảm giác đó giống một tiếng nấc dài hơn… - Anh ta đúng là của em đấy. Nếu mà em không giữ cho tốt, thì anh sẽ đánh đòn em.

- Anh thật là… - Em lại cười, em cười hạnh phúc.

- Có những người yêu em thế cơ mà, phải không em?

Venice dạy cho người ta biết yêu, biết yêu nhau hơn, và biết yêu nhau mãi bằng nhiều cách khác nhau…

Chấm. À không. Chấm cảm chứ nhỉ!

By Lyon - From 2!


Không hẳn là 1 câu chuyện hay. Nhưng có chút gì làm người ta phải nhớ, phải luyến tiếc và... thấy phảng phất mình trong đó. “Một tâm hồn không hoàn hảo, hay nghĩ đến những tình yêu không hoàn hảo, và lựa chọn những kết cục không hoàn hảo”. Ờ... thì cùng lắm là như mình luôn lựa chọn thôi...

Wednesday, June 28, 2006

Bức thư của người đàn bà xa lạ - P.10


Con em, con chúng ta, đã chết. Bây giờ em chẳng còn ai, chẳng còn ai để yêu, ngoài anh, ở trên đời. Nhưng anh là gì đối với em, anh, người đã đi qua bên em như đi qua bên bờ nước, anh, người đã giẫm lên em như giẫm lên một hòn đá, anh, người luôn luôn đi trong vĩnh viễn chờ đợi. Một hôm, em đã tưởng nắm được anh, nắm được con người luôn lẩn trốn em, qua đứa bé này. Nhưng quả nó là con anh, đang đêm, nó nhẫn tâm bỏ em đi xa; nó quên em rồi và chẳng bao giờ trở lại nữa. Một lần nữa, em lại trơ trọi cô đơn, cô đơn hơn bao giờ hết; em chẳng còn gì của anh, chẳng còn gì hết - con thì mất rồi, khôn có một dòng, một chữ, không một kỷ niệm, và nếu có ai thốt ra tên em trước mặt anh thì nó cũng chả có ý nghĩa gì đối với anh.
Tại sao em không sẵn sàng chết đi, một khi đối với anh, em không hề tồn tại? Tại sao không từ bỏ cõi đời này một khi anh đã từ bỏ em? Không, anh vô vàn yêu thương, em xin nói với anh một lần nữa, em không hề kết tội anh, em không muốn những lời than khóc của em khuấy đục niềm vui trong nhà anh, đừng sợ rằng em sẽ ám ảnh anh lần nữa, tha thứ cho em, em cần phải kêu lên một lần bằng tất cả sức lực tâm hồn, vào cái giờ này khi con em nằm kia im lìm, không ai nhòm ngó. Em phải nói với anh một lần và chỉ một lần thôi. Sau đó, em lại quay về với bóng tối và em lại trở nên câm lặng, câm lặng như xưa nay em từng câm lặng bên cạnh anh. Nhưng tiếng kêu này chừng nào em còn sống, sẽ không đến tai anh đâu. Chỉ khi nào em chết, em mới nhận được di chúc này, di chúc của một người đàn bà yêu anh hơn tất cả những người đàn bà khác, mà anh không bao giờ nhận ra, di chúc của một người đàn bà không ngừng đợi chờ anh mà anh không bao giờ gọi đến. Có thể lúc đó, anh sẽ gọi em và lần đầu tiên, em sẽ phụ anh, bởi vì ở dưới mộ, em sẽ không nghe thấy anh gọi. Em không để lại cho anh tấm hình nào, không một dấu vết nhận dạng, cũng như anh, anh chẳng để lại gì cho em; anh sẽ chẳng bao giờ nhận ra em, chẳng bao giờ! Đó là mệnh lệnh của em trong cuộc sống, cầu cho trong cõi chết cũng như thế. Em không muốn gọi anh vào cái giờ cuối cùng này của em, em sẽ ra đi không để anh biết tên, biết mặt em. Em chết không hối tiếc gì, vốn xa với với em, em sẽ không đau đớn gì cả. Nếu anh đau khổ vì cái chết của em, em sẽ không thể chết được.

Em không đủ sức viết tiếp nữa... đầu em nặng trịch... chân tay em ê ẩm, em lên cơn sốt... em cho rằng em sắp sửa phải nằm luôn lên giường chết của mình. Có lẽ sắp sửa chấm dứt... có thể số mệnh sẽ độ lượng với em một lần, không để em phải nhìn thấy những người vận đồ đen mang con em đi... Em không viết được nữa rồi. Vĩnh biệt anh yêu của em, vĩnh biệt!

Cảm ơn anh. Dù sao, những gì đã xảy ra cũng là tốt... Em sẽ cảm ơn anh cho đến hơi thở cuối cùng... Em thấy nhẹ hẳn người, em nói hết với anh, bây giờ anh đã biết - không, anh chỉ phỏng đoán được thôi - là em yêu anh biết nhường nào, vậy mà tình yêu đó không làm cho anh vướng víu gì. Anh sẽ không nhớ thương em - điều đó là một ai ủi cho em. Sẽ chẳng có gì thay đổi trong cuộc sống rực rõ của anh... cái chết của em sẽ không gây phiền toái gì cho anh... điều đó an ủi em nhiều lắm, anh vô vàn yêu thương!

Nhưng rồi... từ nay, hàng năm, ai sẽ gửi hoa hồng bạch đến anh vào dịp sinh nhật? Ôi! Bình hoa sẽ trống không và cả cái hơi thở yếu ớt của bản thân em mỗi năm một lần đến bồng bềnh quanh anh, thế là cũng tắt luôn!

Anh yêu của em, em xin anh hãy lắng nghe... đây là lời cầu xin đầu tiên và cuối cùng của em với anh... vì lòng yêu thương em, hãy làm điều en yêu cầu: mỗi lần sinh nhật anh - tất nhiên ngày này thì anh phải nhớ chứ - anh hãy kiếm hoa hồng cắm vào bình! Hãy làm thế, hãy làm thế, như mỗi năm một lần, người ta thường cầu hồn cho một người đàn bà quá cố thân yêu. Em không tin Chúa nữa và không muốn được nguyện hồn, em chỉ tin anh, em chỉ yêu anh và chỉ có thể còn sống trong anh... Ôi! Chỉ mỗi năm một lần thôi và hoàn toàn, hoàn toàn lặng lẽ, như em đã từng lặng lẽ sống bên anh. Em xin anh, hãy làm điều em yêu cầu, ôi, anh vô vàn yêu thương... Đó là lời câu xin đầu tiên của em với anh, đó cũng là là lời cuối cùng... Cảm ơn anh... em yêu anh... em yêu anh... vĩnh biệt..."

Đôi bàn tay run run của nhà văn buông rơi bức thư. Ông ngồi nghĩ ngợi hồi lâu. Trong ông, hỗn độn dâng lên cái ký ức lơ mơ về một cô bé hàng xóm, rồi một thiếu nữ, rồi một phụ nữ gặp trong một tiệm khiêu vũ ban đêm, nhưng cái ký ức ấy vẫn mơ hồ, ko rõ nét, như một hòn đá lấp lánh, rung rinh dưới đáy nước ko thể phân biệt được hình dáng nó ra sao. Trong trí ông, những cái bóng tiến tiến, lui lui nhưng ko lúc nào tạo thành một hình ảnh rành rọt. Ông khuấy động trong lòng những kỷ niệm êm đềm, nhưng ko có gì rõ ràng cả. Ông bỗng thấy hình như đã mơ thấy tất cả những khuôn mặt ấy, mơ thấy luôn luôn và sâu sắc, nhưng mà chỉ là mơ thôi. Bấy giờ, ông mới để mắt tới chiếc bình hoa trên bàn làm việc trước mặt ông. Bình trống ko, lần đầu tiên trống ko vào dịp sinh nhật ông. Ông rùng mình sợ hãi. Ông thấy như đột nhiên một cái cửa vô hình mở ra và một luồng gió lạnh giá từ thế giới bên kia lùa vào cái yên tĩnh của phòng ông. Ông có cảm giác là một người vừa chết và trong đó có một tình yêu bất tử, tận đáy sâu của tâm hồn ông, một cái gì mở ra và ông nghĩ đến người yêu vô hình ấy một cách cũng hư linh và say đắm như nghĩ tới một tiếng nhạc xa vời.


- End -

Friday, June 23, 2006

Bức thư của người đàn bà xa lạ - P.9


Cái giờ ấy đã đến thật. Nhưng anh không biết nó đến vào lúc nào đâu. Anh chả ngờ là thế, anh yêu của em. Cả lúc ấy nữa, anh cũng không nhận ra em - không bao giờ, không bao giờ anh nhận ra em cả! Phải, đã nhiều lần em gặp anh ở nhà hát, ở những buổi hòa nhạc, ở Prater, ở ngoài phố - lần nào tim em cũng giật thót lên nhưng anh đều đi qua không nhìn em. Tất nhiên bề ngoài em đã khác hẳn: đứa bé nhút nhát đã trở thành một người đàn bà, một người đàn bà đẹp, như người ra thường bảo, áo quần lộng lẫy và đầy những kẻ ái mộ xung quanh. Làm sao anh có thể ngờ em là cô gái rụt rè mà anh chỉ nhìn thấy dưới ánh đèn khuya trong phòng ngủ của anh! Đôi khi, một tình nhân cùng đi với em chào anh, anh đáp lễ và ngước mắt nhìn em; nhưng cái nhìn của anh lịch sự và xa lạ, nó chỉ thán phục em thôi chứ không nhận ra em; nó xa vời đối với em, xa vời một cách khủng khiếp. Em vẫn còn nhớ một hôm, sự quên lãng đó, mà em đã gần quen, trở thành một cực hình. Em ngồi ở một khoang trong nhà hát opera cùng với một người bạn trai và anh ngồi khoang bên cạnh. Lúc mở màn, đèn tắt; em không nhìn thấy mặt anh, nhưng em cảm thấy hơi thở của anh rất gần như trong cái đêm ân ái nọ, và tay anh, bàn tay thanh tú nhỏ nhắn của anh đặt trên thành gỗ bọc nhung ngăn cách giữa hai khoang của chúng ta. Một nỗi khát khao không bờ bến xâm chiếm em, em muốn cúi xuống và kính cẩn đặt một cái hôn lên bàn tay xa lạ đó, bàn tay thân yêu đó mà một hôm em đã cảm thấy sự ôm ấp nồng nàn của nó. Quanh em, nhạc tỏa lan những đợt sóng thấm sâu vào lòng, ước muốn của em mỗi lúc một sôi nổi. Em bắt buộc phải tự chủ lại, đứng phắt dậy, bởi chưng cái sức mạnh lôi kéo đôi môi em về phía bàn tay anh thân yêu thật quá mãnh liệt. Cuối hồi một, em đề nghị người bạn em ra về. Em không thể chịu đựng được cái nỗi có anh bên cạnh trong bóng tối xa lạ thế mà gần gũi thế.

Nhưng dù sao cái giờ xiết bao mong đợi cũng đã đến, nó đã đến một lần nữa; nó đến một lần nữa trong đời em mịt mùng định mệnh.

Dạo đó, cách đây vừa đúng một năm, sau hôm sinh nhật anh. Lạ thay em không ngừng nghĩ tới anh, bởi vì bao giờ em cũng mừng dịp đó như một ngày hội. Em đã ra phố từ sáng sớm tinh mơ và em đã mua những bông hồng bạch mà năm nào em cũng cho gửi đến anh để kỷ niệm một giờ phút anh đã quên hẳn. Buổi chiều, em đưa con đi chơi, dẫn nó đến hiệu bánh ngọt Đêmel và đến tối, em cho con đi xem hát. Em muốn cả nó nữa, ngay từ hồi thơ bé bằng một cách nào đó, nó cũng coi cái ngày này như một ngày hội huyền bí mà nó không cần phải hiểu biết ý nghĩa. Và rồi ngày hôm sau, em với người bạn em hồi đó, một kỹ nghệ gia trẻ và giàu có ở Bruna đã sống với em được hai năm, rất chiều chuộng và thờ phụng em. Cả anh ta cũng muốn lấy em, nhưng cũng như với những người khác, em đã từ chối, bề ngoài tưởng như không có lý do gì, mặc dầu anh ta chồng chất lên hai mẹ con em đủ các thứ quà tặng và thậm chí anh ta còng đáng được yêu nữa với cái hồn hậu hơi nặng nề và quỵ luỵ của anh ta. Chúng em cùng đi nghe hòa nhạc, gặp đông đúc bạn bè vui vẻ ở đó, chúng em ăn tối trong một tiệm ở phố Rinhxtrax và tại đó, giữa những tiếng nói cười, em đề nghị đến một tiệm khiêu vũ ở Tabarin.

Thông thường, em vốn không ưa cái loại hàng quán ấy với không khí vui vẻ giả tạo, sặc sụa hơi men, cũng như mọi thứ mà người ta gọi là "liên hoan" và bao giờ những người đề ra những loại giải trí ấy cũng bị em từ chối. Nhưng lần này, em như cảm thấy một yêu lực huyền bí nó khiến em bất giác đưa ra đề nghị ấy một cách đột ngột và ai ấy đều sôi nổi hưởng ứng một cách vui vẻ - bỗng nhiên em thấy một niềm mong muốn không sao cắt nghĩa nổi, như thể có một cái gì đặc biệt đang chờ đợi em ở nơi đó. Quen chiều em, tất cả đứng dậy và bọn em đi đến Tabarin. Ở đó, bọn em uống sâm banh và đột nhiên một nỗi vui điên dại xâm chiếm em, một nỗi vui gần như phát đau em chưa từng thấy bao giờ. Em uống hết chén này sang chén khác, cũng hát những bài hát nhả nhớt như những người khác và cảm thấy hết sức cần thiết phải nhảy múa và thét lên những tiếng kêu la vui sướng. Bất thình lình - tưởng như có một cái gì giá băng hoặc nóng bỏng đặt lên tim em - em giật bắn mình: anh đang ngồi với các bạn ở bàn bên cạnh và anh hướng về em một cái nhìn thán phục và thèm muốn, cái nhìn mà bao giờ cũng làm em xao xuyến tận đáy tâm hồn. Lần đầu tiên sau mười năm, đôi mắt anh lại dán chặt vào em với tất cả sức mạnh vô thức và cuồng nhiệt của con người anh. Em run lên. Ly rượu em đang giơ lên suýt tuột khỏi tay rơi xuống. May thay những người bạn cùng bàn không nhận thấy sự bối rối của em, nó bị lấp trong tiếng cười và tiếng nhạc.

Cái nhìn của anh mỗi lúc một thêm cháy bỏng và làm toàn thân em như bị ném vào một lò lửa. Em không biết có phải cuối cùng, cuối cùng anh đã nhận ra em không, hay anh chỉ khao khát em như khao khát một người đàn bà mà anh chưa được ôm trong tay, như một người đàn bà khác, như một người xa lạ. Má em bừng bừng và em lơ đãng trả lời những người ngồi cùng với em. Hẳn anh đã nhận thấy cái nhìn của anh làm em luống cuống đến thế nào.

Anh khẽ gật đầu không để ai thấy, mời em ra phòng chờ một lát. Rồi anh đường hoàng gọi tính tiền; anh cáo từ các bạn và đi ra, trước đó không quên ra hiệu cho em một lần nữa là anh chờ em ngoài ấy. Em run lên như lên cơn sốt rét. Em không thể trả lời được những câu người ta hỏi em, em khôn thể ghìm được máu em đang sôi sục. Tình cờ, đúng lúc ấy, một cặp da đen bắt đầu một điệu nhảy mới, kỳ lạ, vừa dận gót vừa thốt ra những tiếng kêu the thé. Mọi người dồn cả mắt vào họ. Em bèn thừa cơ đứng dậy, bảo người tình của em là mình sẽ trở lại ngay và thế là em đi theo anh.

Bên ngoài, anh đợi em ở phòng chờ. Mắt anh sáng lên khi thấy em đến, anh tươi cười chạy ra đón em. Em lập tức thấy anh không nhận ra em, anh không nhận ra cả con bé con lẫn cô gái dạo xưa. Một lần nữa, bàn tay chìa ra đón lấy em là bàn tay chìa cho một người đàn bà gặp gỡ lần đầu, một người đàn bà không quen.

"Một ngày nào đó liệu cô có thể dành cho tôi một giờ không", anh xuề xoà hỏi em. Anh tưởng em là một gái làm tiền ban đêm.
"Vâng", em đáp. Vẫn là cái tiếng "vâng" run run, mặc dù thế vẫn tự nhiên và ưng thuận, tiếng «vâng» mà cô gái là em mười năm trước đã trả lời anh trong đường phố hoàng hôn.
"Thế bao giờ chúng ta gặp nhau được?"
"Lúc nào ông muốn." Trước mặt anh, em không chút xấu hổ. Anh nhìn em hơi ngạc nhiên, vẫn là cái ngạc nhiên do nghi ngại và tò mò mà ngày xưa anh đã tỏ ra trước sự đồng ý mau lẹ của em.
"Bây giờ cô có rỗi không?" anh hỏi em với đôi chút do dự.
"Rỗi ạ", em trả lời, "ta di thôi."

Em định quay lại lấy áo măng tô ở phòng gửi quần áo. Bấy giờ, em chợt nhớ ra rằng áo của em và của người bạn trai gửi chung một vé. Quay lại hỏi vé anh ta mà không có cớ gì rõ rệt thì không thể được; mặt khác, bỏ qua cái giờ được ở bên anh, cái giờ mong muốn thiết tha từ bao lâu nay, thì em không muốn. Cho nên em không do dự một giây; em chỉ cần quàng chiếc khăn san lên áo dạ hội và bước ra trong đêm mờ sương và ẩm ướt, không bận tâm đến chiếc áo măng tô, không cần biết đến con người tốt và ưu ái đã nuôi em sống mấy năm nay, con người mà em biến thành trò hề lố bịch trước mặt bạn bè bằng cách bỏ rơi anh ta như vậy để đi theo một kẻ xa lạ ngay từ cái nháy mắt đầu tiên, sau khi đã là tình nhân của anh ta mấy năm trời. Ồ! trong thâm tâm, em hoàn toàn ý thức được sự đê tiện, sự vô ơn, sự bỉ ổi mà em đã phạm đối với một người bạn chân thành; em cảm thấy em hành động một cách kỳ cục và bằng sự rồ dại đó, em đã xúc phạm mãi mãi, làm tổn thương đến chết một con người đầy lòng tốt đối với em; em biết rằng, em đã làm tan nát đời em, nhưng tình bạn đối với em có nghĩa gì, cuộc sống đối với em có nghĩa gì so với lòng em đang nôn nóng muốn được cảm thấy một lần nữa sự tiếp xúc của đôi môi anh, được nghe thấy những lời âu yếm của anh. Vậy đó, em yêu anh như thế đó; bây giờ mọi chuyện đã qua, mọi chuyện đã xong rồi, em có thể nói rõ điều ấy với anh và em tin rằng, nếu như trên giường lâm chung của em, anh gọi em thì em vẫn đủ sức vùng dậy để đi đến với anh.

Ở trước cửa tiệm khiêu vũ, có một chiếc xe, chúng mình đáp luôn về phía nhà anh. Em tận hưởng cái êm ái được bên anh, em lại say sưa, tràn ngập cái hạnh phúc trẻ thơ và bối rối, giống hệt như dạo xưa. Em lại leo lên những bậc cầu thang, lần đầu tiên, sau hơn mười năm, với tâm trạng rạo rực như thế nào, em không thể, phải em không thể mô tả cho anh nghe trong một vài giây đó, một tình cảm hai chiều đã xáo trộn quá khứ và hiện tại trong em như thế nào, cũng như trong tất cả các cái đó, làm sao em vẫn lại chỉ thấy riêng mình anh mà thôi.

Phòng ngủ của anh không thay đổi mấy. Thêm một vài bức tranh, thêm nhiều sách hơn, đây đó vài thứ đồ đạc của nước ngoài. Tuy nhiên tất cả đều chào đón em một cách thân thuộc. Và trên bàn anh là cái bình và những bông hồng, những bông hồng của em, những bông hồng em gửi hôm trước nhân dịp sinh nhật anh, đồng thời để kỷ niệm một người đàn bà mà anh không còn nhớ đến nữa, mà anh không nhận ra kể cả trong lúc này đây khi cô ta ở kề bên anh, tay trong tay anh, môi siết chặt môi anh. Tuy nhiên em sung sướng thấy là anh đã chăm chút những bông hồng của em, thành thử dù sao, xung quanh anh cũng thoang thoảng chút hơi thở của bản thân em, chút hương của tình em.

Anh ôm em trong tay. Em lại qua một đêm lạc thú với anh. Nhưng ngay cả khi em không còn có gì trên người, anh vẫn không nhận ra em. Sung sướng, em để mặc cho anh vuốt ve một cách lọc lõi và em thấy sự cuồng nhiệt ân ái của anh chẳng hề phân biệt một người yêu với một gái làm tiền, anh hoàn toàn tự buông thả theo dục vọng của mình với tất cả sự nông nổi và hào phóng vốn là đặc tính của anh. Anh rất dịu dàng âu yếm đối với em, đối với một người gặp trong quán rượu đêm, anh rất quý phái, rất thân tình, rất ân cần, vậy mà đồng thời anh lại tỏ ra say mê trong việc hưởng thụ đàn bà. Một lần nữa, em lại thấy cái lưỡng tính có một không hai của con người anh, em lại thấy trong cái tính nhục cảm của anh cái lý tính sáng suốt đã từng biến con bé là em thành nô lệ của anh. Chưa bao giờ em nhận thấy một người đàn ông nào trong khi ân ái lại bỏ lãng hiện tại một cách tuyệt đối như thế, dào dạt như thế và lan tỏa như thế — nói cho đúng ra, để rồi sau đó tắt đi trong một lan tỏa không cùng và gần như siêu phàm.

Nhưng cả em nữa, em cũng quên hẳn bản thân mình. Giờ đây em là cái gì trong đêm tối, bên cạnh anh? Con bé sôi nổi ngày xưa, mẹ của con trai anh hay người đàn bà xa lạ?

Ôi! Sao mà tất cả đều quen thuộc, đều gần gũi đối với em, vậy mà tất cả đều phập phồng một cuộc sống mới trong cái đêm mê cuồng này! Và em cầu cho nó đừng bao giờ chấm dứt.

Nhưng rồi cũng đến sáng. Hai chúng mình dậy muộn. Anh mời em ăn sáng với anh. Chúng mình uống trà do một người hầu vô tình kín đáo dọn ở buồng ăn và chúng mình chuyện gẫu. Một lần nữa anh lại nói với em với tất cả sự xuề xoà thẳng thắn và thân mật riêng biệt của anh, và lần này cũng không hề hỏi em những câu đường đột, không tỏ chút tò mò gì về con người em.

Anh không hỏi tên em, cũng không hỏi địa chỉ em. Một lần nữa, đối với anh, em chỉ là chuyện giăng hoa, là người đàn bà không tên, là giờ ái ân sẽ bay hơi đi trong làn khói của quên lãng, không để lại mảy may dấu vết. Anh kể là anh sắp làm một chuyến viễn du khoảng hai, ba tháng sang Bắc Phi. Giữa lúc đang hạnh phúc, em bỗng run lên vì bên tai em đã lại gằn lên những chữ này: thế là hết! Thế là hết và lại chìm vào quên lãng! Em sẵn sàng phục xuông chân anh mà kêu lên - "Hãy mang em đi để cuối cùng, anh có thể nhận ra em, sau bao năm đằng đẵng". Nhưng em rụt rè quá và hèn nhát quá, yếu đuối quá và quị luỵ quá trước mặt anh. Em chỉ đủ sức nói như thế này: - "tiếc thật!". Anh mỉm cười nhìn em và hỏi: "Em có buồn thực sự vì anh đi không?".

Lúc ấy, bỗng nhiên em cảm thấy như tức giận. Em nhìn anh hồi lâu một cách rắn rỏi. Rồi em nói: "Người yêu em cũng thế, cứ đi xa hoài". Rồi em nhìn thẳng vào mắt anh "Bây giờ anh ấy sắp nhận ra mình đây", em tự nhủ, toàn thân run lên và căng thẳng. Nhưng anh chỉ mỉm cười đáp lại và nói để an ủi em: "người ta đi rồi người ta lại về" - "phải", em trả lời, "khi trở về thì người ta đã quên".

Chắc là trong cái cách em nói câu ấy, có một cái gì kỳ lạ, một cái gì cuồng nhiệt, bởi vì anh đứng dậy và nhìn em rất ngạc nhiên, rất âu yếm. Anh nắm lấy vai em: "Những cái tốt đẹp làm sao mà quên được, anh sẽ không quên em", anh bảo thế. Đồng thời cái nhìn của anh xoáy vào tận đáy tâm hồn em, như muốn nhuốm dấu vết của hình ảnh em. Và trong khi cảm thấy cái nhìn đó thấm sâu vào mình, lục lọi, tìm kiếm, em những tưởng cái bùa yểm che mắt anh đã mất linh. "Anh ấy sắp nhận ra mình, anh ấy sắp nhận ra mình rồi". Cả tâm hồn em run lên khi nghĩ như vậy.

Nhưng anh không nhận ra em. Không, anh không hề nhận ra em, và không lúc nào em xa lạ với anh hơn lúc này, bởi vì nếu không thế thì anh đã chẳng làm cái việc xảy ra trong mấy phút sau. Anh đã hôn em, hôn nữa, hôn say đắm. Em phải sửa lại mái tóc bị anh làm bù rối. Trong khi em đứng trước gương - ôi em tưởng đến ngất đi vì hổ thẹn và kinh hãi! Em thấy anh đang kín đáo nhét vào cái bao tay của em mấy tờ giấy bạc lớn. Làm sao mà lúc ấy em lại có đủ sức để kìm lại không kêu lên, không tát vào mặt anh, em, người đã từng yêu em từ thuở còn thơ, em, mẹ của con trai anh, mà anh lại đi trả tiền em về cái đêm ân ái này. Trước mặt anh, em chỉ là một con đượi ở đường phố Tabarin, không hơn không kém - và anh đã trả tiền em, phải trả tiền em! Anh quên em chưa đủ sao mà anh còn phải làm nhục em thế này nữa.

Em vội vã vơ quần áo, em muốn đi, đi ngay. Em đau đớn quá rồi. Em giơ tay với chiếc mũ: nó ở trên bàn viết bên cạnh bình hoa hồng, những bông hồng bạch của em. Bấy giờ, em chợt cảm thấy một đòi hỏi mãnh liệt không sao cưỡng nổi, em phải thử một lần nữa đánh thức những kỷ niệm của anh dậy: "Anh có thể cho em một bông hồng bạch được không?", em nói - "Rất vui lòng!", anh trả lời. Và anh lập tức cầm lấy một bông. - "Nhưng có lẽ hoa này là của một người đàn bà nào tặng anh, một người đàn bà yêu anh?" em hỏi.

"Có thể" - anh nói, "nhưng anh không biết. Những bông hoa đó, anh không rõ ai cho mình, cho nên anh thích chúng".

Em nhìn anh, "cũng có thể đó là của một người đàn bà mà anh đã quên chăng?"


Anh ngước mắt lên về phía em, ngạc nhiên. Em nhìn anh chằm chằm. Hãy nhận ra em, hãy nhận ra em đi, cuối cùng, anh hãy nhận ra em đi nào, cái nhìn của em gào lên với anh như vậy!


Nhưng đôi mắt anh chỉ cười thân ái, không hiểu. Anh lại hôn em lần nữa, nhưng anh không nhận ra em.


Em đi thật nhan ra cửa, bởi vì em cảm thấy nước mắt trào lên và không thể để anh thấy được. Quá hấp tấp, suýt nữa em đâm sầm vào bác Jăng, người lão bộc của anh, ở phòng chờ. Bác hoảng hốt nhảy vội sang một bên và mở phắt cửa cho em qua. Và trong hi em nhìn bác lúc ấy - anh có nghe em đấy không? - trong cái giây phút đồng hồ ấy, khi nước mắt lưng tròng, em nhìn ông lão, em thấy mắt bác loé lên một ánh đột ngột. Trong có một giây thôi, anh nghe thấy không? Trong cái giây phút đồng hồ ấy, người lão bộc của anh, đã nhận ra em, vậy mà kể từ hồi niên thiếu, bác ta không hề gặp lại em.

Em những muốn quỳ thụp xuống hông tay bác! Em giằng vội từ chiếc bao tay ra mấy tờ giấy bạc mà anh đã thí cho em và dúi vào tay bác. Bác run lên, nhìn em sợ hãi, trong cái giây đồng hồ ấy, có lẽ bác đã hiểu em hơn anh trong cả cuộc đời anh. Tất cả những người đàn ông, phải, tất cả đều chiều chuộng em, tất cả đều tốt với em. Riêng anh, chỉ có riêng anh là quên em, riêng anh, chỉ có riêng anh là không nhận ra em.

(to be continued...)

Wednesday, June 21, 2006

Bức thư của người đàn bà xa lạ - P.8

Nhưng không phải em kết tội anh đâu; em chỉ kết tội Thượng Đế, kết tội riêng Thượng Đế đã muốn gây ra cái cực hình vô lối ấy. Em không kết tội anh, em thề là như vậy, và trong cơn phẫn nộ, không bao giờ em chống lại anh. Ngay cả trong giờ phút đau đẻ quằn quại, ngay cả khi thân thể em nóng ran vì xấu hổ trước những sinh viên ngoại trú trẻ tuổi hau háu nhìn em, ngay cả trong giây phút tâm hồn em tan nát vì đau đớn, cũng không bao giờ em kết tội anh trước Chúa, không bao giờ em hối tiếc chút gì về những đêm chung sống với anh; không bao giờ mối tình của em đối với anh gợn lên một lời trách móc; bao giờ em cũng yêu anh, bao giờ em cũng cầu phước lành cho cái giờ đã run rủi cho em gặp anh. Và ví bằng có phải trả lại cái địa ngục của những giờ đau khổ ấy, dù có biết trước những điều chờ đợi mình, thì anh yêu ơi, em vẫn làm lại đúng những điều em đã làm một lần nữa, ngàn lần nữa.

Con chúng ta chết rồi. Anh chưa hề biết nó. Chưa bao giờ, ngay cả trong một cuộc gặp mặt tình cờ thoáng qua, cái nụ hoa bé bỏng từ anh sinh ra ấy được luống mắt anh chạm tới. Từ khi có đứa con ấy, em lánh mặt anh một thời gian dài. Mối tình sôi nổi của em đối với anh bớt đau đớn hơn; thậm chí em còn tưởng là em không yêu anh say mê như trước nữa; ít ra thì mối tình đó cũng không hành hạ em khổ sở đến như thế nữa; cho nên em hiến tất cả sức lực không phải cho anh mà cho đứa bé đan cần em, mà em phải nuôi, mà em có thể bồng lên trên tay và hôn khắp mình mẩy. Em như được giải thoát khỏi nối bối rối anh đã gieo vào tâm hồn em như rứt ra khỏi cái số mệnh khốn khổ của mình rút cục lại được cứu vớt bởi bản thân anh dưới hình dạng khác nhưng thực sự thuộc về em; và họa hoằn, phải họa hoằn lắm em mới lại cung cúc mang khối tình em đến chực trước nhà anh. Em chỉ duy có một điều: cứ đến sinh nhật anh, em lại gửi đến anh một bó hoa hồng trắng giống hệt như những bông hoa anh đã tặng em sau đêm ân ái đầu tiên của chúng ta. Có bao giờ, trong suốt mười, mười một năm ấy anh tự hỏi là ai đã gửi hoa cho mình không? Liệu anh có nhớ cô gái mà một hôm anh đã cho những bông hồng giống như thế không? Em chả biết nữa và em sẽ không bao giờ biết câu trả lời của anh. Về phần em, em chỉ cần bí mật tặng anh những bông hồng đó và mỗi năm một lần làm nở lại kỷ niệm về giờ phút ấy.

Anh chưa hề biết nó, đứa con tội nghiệp của chúng ta. Giờ đây, em thấy giận mình là đã giấu biệt nó khuất mắt anh, nếu không, chắc hẳn anh phải yêu nó. Anh chưa hề biết mặt nó, thằng bé tội nghiệp, anh chưa hề bao giờ được thấy nó mỉm cười khi nó khẽ hé hàng mi ngước đôi mắt đen, thông minh - đúng là mắt anh - rọi ánh sáng tươi trong và vui vẻ vào em, vào tất cả thế gian. Ôi! Nó thật nhộn, thật đáng yêu, tất cả cái duyên dáng của con người anh lặp lại trong nó mãnh liệt và sôi động của anh; trong hàng giờ liền, nó có thể nô giỡn với một đồ vật, như anh thích đùa vui với cuộc đời; rồi nó trở lại nghiêm chỉnh ngồi trước chồng sách, lông mày nhíu lại, càng ngày nó càng giống anh. Thậm chí ở nó, đã bắt đầu phát triển khá rõ cái lưỡng tính vừa nghiêm nghị vừa hồ hởi vốn là đặc điểm của anh; và nó càng giống anh, em càng yêu nó. Nó học tiếng Pháp khá, và nói như một con khướu con; vở nó sạch nhất lớp; thêm vào đó, sao mà nó xinh xẻo, trang nhã trong bộ quần áo nhung đen hoặc bộ lính thủy trắng! Đi đâu nó cũng nổi bật nhất; khi hai mẹ con em đi trên bãi tắm Građô, nhiều bà cứ dừng lại vuốt ve mớ tóc dài vàng óng của nó; nó đi xe trượt, ai cũng phải quay lại nhìn thán phục. Nó xinh đẹp biết bao, tế nhị biết bao, ân cần biết bao! Năm ngoái, khi nó vào nội trú ở trường Mari-Têrezơ, nom cái dáng nó cầm cái kiếm nhỏ, vận bộ đồng phục, cứ như là một kiếm đồng thế kỷ 18 ấy. Giờ đây, tội nghiệp thằng bé, nó nằm đó, trên mình chỉ có chiếc sơ mi ngắn tay, đôi môi nhợt nhạt, hai bàn tay chắp lại.

Nhưng có lẽ anh cũng muốn biết em làm thế nào để nuôi con như vậy trong sự xa hoa, em làm thế nào để nó có thể sống cuộc đời rực rỡ, vui tươi của những đứa trẻ trong giới thượng lưu? Anh thương yêu, em nói với anh giữa trùng trùng bóng tối. Em không xấu hổ, em sẽ nói ra cho anh biết đây, nhưng anh đừng sợ, anh yêu của em, em đã bán mình. Em không phải chính cống là một gái làng chơi đón khách ngoài phố, một gái điếm, nhưng em đã bán mình. Em có những người bạn giàu, những người yêu có của; thoạt đầu em tìm họ, sau rồi chính họ lại tìm em, bởi vì - không biết anh có bao giờ nhận thấy thế không? - Em rất xinh. Người đàn ông nào được cùng em chăn gối đều thương mến em; tất cả đều biết ơn em, tất cả đều tha thiết với em, tất cả đều yêu em - tất cả trừ anh, phải chỉ có mình anh, ôi anh yêu của em!

Giờ đây, em đã bộc lộ với anh là em đã từng bán mình, anh có khinh em không? Không, em biết, anh không hề khinh em; em biết anh hiểu hết tất cả và anh cũng nên hiểu là sở dĩ em hành động như vậy, đó hoàn toàn chỉ vì cái "tôi" khác của anh, vì con anh. Trong cái phòng ở nhà hộ sinh làm phúc kia, một hôm em đã tiếp xúc với những gì là kinh khủng của sự nghèo hèn; em biết rằng trên đời này, người nghèo bao giờ cũng là nạn nhân, là kẻ bị người ta dúi xuống, chà đạp dày xéo lên và bằng bất cứ giá nào, em cũng không muốn cho con anh, đứa con đẹp của anh lớn lên ở nơi bùn lầy nước đọng dưới đáy xã hội, hư hỏng đi trong sự tiếp xúc thô lỗ với bọn đầu đường xó chợ, héo hắt trong không khí xú uế của một cái sân sau. Không thể để cho cái miệng thanh tao của nó biết cái ngôn ngữ yêu tà cũng như không thể để thân hình trong ngọc trắng ngà của nó biết đến thứ vải thô, mốc meo sần sùi của người nghèo. Con anh phải được hưởng mọi thứ, tất cả sự giàu sang và tất cả tiện nghi trên trái đất; nó phải đạt đến mức sống của anh.

Đó là lý do duy nhất khiến em bán mình. Đối với em, đó không phải là một sự hy sinh; bởi vì, cái mà người ta thường gọi là danh dự hay điếm nhục, đều không có dưới mắt em. Khi mà người làm chủ cuộc đời em lại không yêu em thì cái thân thể em nó muốn làm gì, em cũng dửng dưng. Những vuốt ve của đàn ông, thậm chí cả mối tình sâu sắc nhất của họ, không hề làm trái tim em rung động, mặc dầu em rất trân trọng nhiều người trong số đó và nhiều lần thường cảm thấy xao xuyến thương hại trước tình yêu không được đền đáp của họ, nó gợi nhớ đến số phận của chính em. Tất cả những người em quen đều tốt với em, tất cả đều chiều em, tất cả đều trọng em. Nhất là một vị bá tước goá vợ và có tuổi, chính ông đã chồn chân đạp cửa trường Mari Têrêgiơ để buộc họ phải nhận đứa bé không cha là con anh vào học. Ông yêu em như tình cha con. Ba bốn lần ông ngỏ lời cầu hôn. Lẽ ra ngày nay em đã là nữ bá tước, chủ nhân một lâu đài thần tiên ở vùng Tyrol; đáng lẽ em không phải lo lắng gì, bởi vì thằng bé sẽ có một người cha dịu dàng yêu nó đến mức tôn sùng và em thì có một người chồng qúy phái tốt và hiền hậu. Nhưng em đã không nhận lời ông mặc dù ông luôn luôn gặng hỏi, rất khẩn khoản, mặc dầu sự từ chối của em làm ông đau đớn, có lẽ em đã phạm một điều điên rồ, bởi vì nếu em nhận lời thì bây giờ em đã yên ổn ở một nơi nào đó cùng với đứa con trai. Nhưng tại sao lại không thú thật luôn với anh? Em không muốn ràng buộc mình: em muốn lúc nào cũng thuộc quyền anh sử dụng. Ở nơi sâi thẳm nhất của trái tim, trong tiềm thức của em vẫn còn sống một mơ ước trẻ con ấp ủ từ lâu là biết đâu anh chả gọi đến em một lần nữa, dù chỉ là một tiếng đồng hồ. Và chờ đợi khả năng ấy, em đã cự tuyệt tất cả, bởi vì em muốn ngay từ tiếng gọi đầu tiên của anh, em đã sẵn sàng. Cuộc đời em, kể từ khi em bước ra khỏi thời thơ ấu có bao giờ là cái gì khác ngoài một sự chờ đợi, chờ đợi ý muốn của anh?

(to be continued...)