Sunday, April 22, 2007

Chàng Đỏ - Somerset Maugham (2)



- Qua những cái cầu như thế này khi chưa quen cũng tốn chút ít thần kinh đấy chứ.

Gã ngẩng lên nhìn và thấy một người đàn ông đang đứng trước mặt. Ắt hẳn ông ta từ cái nhà mà gã trông thấy đi ra.

- Tôi thấy ông ngập ngừng, - người đàn ông tiếp tục nói với nụ cười trên môi, - và tôi chỉ rình được thấy ông ngã.

- Có mà đến mục thất nhà ông, - viên thuyền trưởng nói, lúc này đã lấy được vẻ tự tin.

- Chính tôi trước kia cũng đã từng ngã. Tối nhớ là có một buổi tối đi săn về, tôi đã ngã, đánh rơi cả súng. Giờ thì tôi cho một cậu bé mang súng cho tôi.

Người đàn ông không còn trẻ nữa, có một bộ râu nhỏ giờ đã điểm bạc, và một khuôn mặt thuôn gầy. Ông ta mặc áo lót không tay và cái quần vải bông. Ông ta chẳng đi giày, tất gì cả. Ông ta nói tiếng Anh bằng một giọng hơi lơ lớ.

- Ông là Ninxơn? - Viên thuyền trưởng hỏi.

- Tôi đây.

- Tôi có nghe nói về ông. Tôi đoán là ông sống quanh quanh đâu đây.

Viên thuyền trưởng theo chủ nhân đi vào căn nhà một tầng và nặng nề ngồi xuống cái ghế mà người kia chỉ cho. Trong lúc Ninxơn đi ra ngoài kiếm rượu uytki, gã nhìn quanh gian nhà một lượt. Nó làm gã đầy sửng sốt. Chưa bao giờ gã thấy lắm sách đến vậy. Các giá đặt từ sàn lên đến trần ở cả bốn phía tường mà cái nào cũng chứa chật cả. Một cây đàn pianô lớn bày bừa các bản nhạc, và một cái bàn rộng trên đó sách vở tạp chí để bề bộn. Gian buồng làm gã thấy bối rối. Gã nhớ rằng Ninxơn là một tay kỳ quặc. Không ai biết về ông ta nhiều lắm, tuy ông ta đã ở đảo lâu, nhưng những ai biết ông ta đều đồng ý rằng ông ta kỳ quặc. Ông ta người Thuỵ Điển.

- Ông có một tủ sách to quá nhỉ, - gã nói, khi Ninxơn quay vào.

- Chúng cũng chẳng hại gì, - Ninxơn đáp với một nụ cười.

- Ông đã đọc tất cả số sách ấy rồi sao? - Viên thuyền trưởng hỏi.

- Cũng gần tất cả.

- Tôi cũng có đọc chút ít. Tôi vẫn đặt mua báo "Bưu điện tối thứ bảy".

Ninxơn rót cho khách một cốc rượu uytki khá mạnh và đưa cho gã một điếu xì-gà. Viên thuyền trưởng hởi dạ thông báo đôi điều tin tức:

- Tôi đến hôm qua, mà không tài nào tìm ra khe nước, nên phải bỏ neo phía ngoài. Tôi chưa chạy đường này bao giờm nhưng mấy cha bên tôi chở mấy thứ qua đây. Ông có biết Grây không?

- Vâng, anh ta có cái cửa hàng cách đây một đoạn đường.

- Phải, ở đấy có rất nhiều đồ hộp anh ta muốn được chở đến, với lại anh ta cần cả ít cùi dừa khô nữa. Họ cho là tôi cứ nên qua đây, nằm ườn ở Apia thì cũng thế. Tôi vẫn chạy đường Apia và Pago-Pago đấy chứ, nhưng vừa mới phát dịch đậu mùa ở đấy, nên chẳng có cóc khô gì để làm cả.

Gã uống một hớp rượu uytki và châm điếu xì gà. Gã vốn lầm kì, nhưng có cái gì đó trong con người Ninxơn khiến gã bị kích động làm gã cất tiếng. Người đàn ông Thuỵ Điển ngắm gã bằng cặp mắt to, đen, trong đó hơi thể hiện vẻ giễu cợt thích thú.

- Ông có cái chỗ xinh đáo để.

- Tôi cũng phải bỏ ra nhiều công sức đấy,

- Với chỗ cây này ông cũng khấm khá đấy nhỉ. Trông hay thật. Cùi dừa khô bây giờ đang được giá đấy. Tôi cũng đã có thời có ít đồn điền ở Upôlu (1), nhưng tôi đã phải bán đi rồi.

Gã nhìn quanh gian nhà một lần nữa, tất cả những quyển sách kia gợi cho gã một cảm giác khó hiểu và thù địch nào đó.

- Chắc ở đây ông thấy hơi buồn nhỉ? - Gã nói.

- Tôi đã quen rồi. Tôi ở đây đã hai mươi lăm năm.

Lúc này viên thuyền trưởng chẳng còn nghĩ ra chuyện gì để nói nữa, nên gã im lặng hút thuốc. Ninxơn hiển nhiên không tỏ ý muốn phá vỡ sự yên lặng. Ông nhìn khách bằng con mắt nghĩ ngợi. Gã có vóc người cao hơn sáu bộ, và rất mập. Mặt gã đỏ và đầy vết bẩn, với một mạng mao mạch màu tía trên má, những đường nét bị chìm vào trong sự phì nộn. Mắt gã vằn tia máu. Cổ bị vùi trong những ngấn mỡ. Nếu không có một món tóc quăn và sài, gần như màu trắng ở phía gáy, thì đầu gã hoàn toàn hói; và cái bề mặt trán thênh thang, bóng láng kia đáng lẽ phải tạo cái dáng uyên bác giả tao, thì nó lại tạo cho gã một vẻ đần độn đặc biệt. Gã mặc sơ mi xanh lơ bằng vải phlanen, phanh cổ và phơi bày bộ ngực béo phủ một mảng lông đo đỏ. Chiếc quần xanh rất cũ bằng vải xéc. Gã ngồi trên ghế trong một tư thế vụng về, nặng nề, cái bụnbg vĩ đại chìa ra phía trước và đôi bắp chân mập không bắt chéo. Mọi đặc tính đàn hồi đã thoát ra khỏi chân tay gã. Ninxơn trầm ngâm tự hỏi không hiểu thời trẻ gã thuộc loại người nào. Hình như không thể hình dung ra nổi cái tấm thân đồ sộ kia đã từng là một cậu bé chạy tung tăng. Viên thuyền trưởng đã uống hết cốc uytki và Ninxơn đẩy cái chai về phía gã.

- Xin mời ông.

Viên thuyền trưởng rướn người về phía trước và lấy tay tóm lấy chai rượu.

- Thế sao ông lại tới cái xứ này? - Gã hỏi.

- Ồ, tôi đến các đảo nơi đây là vì chuyện sức khoẻ. Phổi tôi hồi đó rất tồi, và người ta bảo tôi sẽ không sống nổi một năm nữa. Ông thấy đấy, người ta đã nhầm.

- Tôi muốn hỏi làm sao ông lại an cư ở chính nơi đây?

- Tôi là một người đa cảm.

- Chà!

Ninxơn biết viên thuyền trưởng chẳng hiểu gì điều ông nói, và ông nhìn gã với một ánh mỉa mai trong đôi mắt đen của ông. Có lẽ chính vì viên thuyền trưởng là một kẻ quá thô phàm và đầy độn nên ông thấy muốn hăng nói nữa.

- Ông phải lo giữ thăng bằng quá lúc qua cầu nên không nhận ra rằng chỗ này nói chung là khá đẹp đấy.

- Ông có căn nhà nho nhỏ đáng yêu thật.

- À, đây không phải nơi tôi đến ở lúc đầu. Nơi đây có một túp lều của thổ dân, mái tổ ong và kèo cột, núp bóng một cây to hoa đỏ, còn những bụi cây ba đậu, lá vàng, lá đỏ ánh lên làm thành một hàng rào xung quanh. Rồi chung quanh lại toàn những cây dừa, lạ lùng như đàn bà, và cũng kiêu kỳ như thế. Chúng đứng bên mép nước và cả ngày soi bóng mình xuống đó. Hồi ấy tôi còn thanh niên. Trời, cái thuở một phần tư thế kỷ về trước - tôi đã muốn hưởng trọn vẹn vẻ đáng yêu của thế gian trong khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại trước khi bước vào cõi hư vô. Tôi nghĩ đấy là chỗ đẹp nhất tôi từng gặp. Lúc đầu trông thấy, tôi đã sững sờ, e rằng mình sắp phát khóc lên. Bấy giờ chưa quá hăm lăm, và cho dù tôi đã lấy hết can đảm nhìn thẳng vào số mệnh, tôi vẫn không muốn chết. Thế rồi hình như chính cái vẻ đẹp nơi này đã làm tôi dễ dàng chấp nhận số mệnh của mình hơn. Tôi cảm thấy là khi tôi đến đây, tất cả quãng đời quá khứ đã rơi tuột đi mất. Xtốckhôm với Trường đại học tổng hợp của nó, rồi thì Bon; tất cả cứ như cuộc đời của một người nào khác, như thể lúc này rốt cuộc tôi đã đạt đến cái hiện thực mà các vị tiến sĩ triết học - tôi cũng là một tiến sĩ triết, - đã từng tranh cãi khá nhiều. "Một năm" - tôi thốt lên với chính mình, - "Ta có một năm. Ta sẽ dùng nó ở nơi đây và rồi ta sẽ bằng lòng nhắm mắt xuôi tay". Chúng ta đều ngốc nghếch, đa cảm và hay xúc động ở cái tuổi hăm lăm, nhưng giá chúng ta không như vậy thì có lẽ chúng ta sẽ kém sáng suốt hơn ở cái tuổi năm mươi. Nào uống đi, ông bạn. Đừng để những chuyện dấm dớ xen vào. Ông vẫy bàn tay về phía cái chai, và viên thuyền trưởng cạn nốt phần rượu trong cốc.

- Ông chẳng uống tí nào cả, - gã nói, tay với chai uytki.

- Tôi không nghiện, người đàn ông Thuỵ Điển mỉm cười - Tôi tự đầu độc mình bằng những cách tôi tưởng là còn tinh tế hơn. Nhưng có lẽ nó chỉ là chuyện huyễn hoặc. Dẫu sao, tác động kéo dài hơn và kết quả cũng độc hại hơn.

(1): Một trong chín hòn đảo ở Tây Xamoa, có trung tâm hành chính là Apia


To be continued

Chàng Đỏ - Somerset Maugham (1)

Viên thuyền trưởng thọc tay vào một bên túi quần với vẻ khó khăn, vì nó không nằm ở bên sườn mà lại ở đằng trước, đã thế gã lại to béo; gã rút ra chiếc đồng hồ to bằng bạc. Gã nhìn đồng hồ rồi lại nhìn lên mặt trời đang xé. Anh chàng người Kanaka ở mạn trái đưa mắt nhìn viên thuyền trưởng, nhưng không nói gì. Mắt viên thuyền trưởng dừng lại ở hòn đảo mà họ đang tiến lại gần. Một vệt bọt trắng ghi dấu đá ngầm. Đã biết rằng chỗ này có một khe nước đủ rộng cho con tàu đi qua, khi họ tới gần hơn, gã tính sẽ trông thấy. Họ còn có gần một tiếng nữa trước khi mặt trời lặn. Trong vịnh nước sâu, họ sẽ có thể thả neo thoải mái. Hương trưởng làng mà gã nhìn thấy giữa đám cây dừa kia là bạn của viên thuyền phó, lên bờ một đêm cũng dễ chịu. Viên thuyền phó tiến về phía trước và đúng lúc ấy viên thuyền trưởng quay về phía anh ta.

- Ta sẽ làm một chai rượu và rủ dăm cô gái lên nhảy, - gã nói.

- Tôi chẳng thấy khe nước đâu, - viên thuyền phó đáp.

Anh ta người Kanaka, đẹp trai, da ngăm đen, nom phần nào từa tựa như một Hoàng đế La Mã hậu sinh, đang đà chắc mập; nhưng khuôn mặt mịn màng và nhẵn nhụi.

- Tôi cầm chắc là nó ở ngay đây thôi, - viên thuyền trưởng vừa nói vừa nhìn qua cặp kính. - Tôi không hiểu tại sao ta lại không nom thấy. Thử cho một đứa trèo lên cột buồm ngó xem sao.


- Thuyền phó gọi một thủy thủ đế và ra lệnh. Viên thuyền trưởng dõi theo anh chàng thủy thủ người Kanaka leo lên và chờ anh ta báo. Nhưng anh ta nói vọng xuống là anh ta không trông thấy gì ngoài cái vệt bọt kia. Viên thuyền trưởng nói tiếng Xamoa như một thổ dân, gã chửi tục một các thoải mái.

- Cho nó ở trên ấy nữa hay không? - Viên thuyền phó hỏi.

- Ở trên ấy làm mẹ gì nữa? - Viên thuyền trưởng đáp. - Cái đồ ngốc nghếch chết tiệt ấy làm sao mà thấy được cái gì. Đánh cuộc với ông là thể nào tôi cũng tìm được cái khe nước nếu tôi lên trên ấy.

Gã tức giận nhìn cái cột buồm thanh mảnh. Thật rất hợp với một đứa thổ dân vốn vẫn quen trèo dừa suốt đời. Còn gã thì béo và nặng nề.

- Xuống đi, - gã kêu to. - Mày chẳng tích sự gì hơn đồ chó chết. Ta đành phải đi dọc dãy đá ngầm đến bao giờ tìm được khe nước mới thôi.

Đó là một chiếc tàu buồm bảy mươi tấn có động cơ chạy bằng paraphin. Khi không có gió ngược, nó chạy quãng bốn năm dặm một giờ. Chiếc tàu đã cũ được sơn trắng từ dạo lâu lắm rồi, nay nó vừa bẩn, vừa dơ, lốm đốm những vết. Nó sặc mùi paraphin và mùi dừa khô là thứ hàng chở thường xuyên. Họ chỉ còn cách dãy đá ngầm một trăm bộ và viên thuyền trưởng bảo người lái chạy men theo đá ngầm cho đến khi tới khe nước. Nhưn khi đã đi được một vài dặm, anh ta mới nhận ra là đã mất dấu. Anh ta trở buồm và từ từ cho lui lại. Bọt trắng của đá ngầm tiếp nối không hề đứt đoạn, và lúc này mặt trời đang lặn. Chửi cho sự ngu ngốc của kíp thủy thủ một câu, viên thuyền trường đành chịu đợi cho đến sáng hôm sau.

- Xoay buồm lại, - gã nói. - Làm sao bỏ neo ở đây được.

- Họ lại quay ra khơi chút ít, và giờ trời đã tối hẳn. Họ bỏ neo. Khi buồm đã cuộn, con tàu bắt đầu lắc lư mạnh. Ở Apia người ta nói rằng một ngày kia thể nào nó cũng lắc lư đến lật thì thôi; còn người chủ, một người Mỹ gốc Đức cai quản một trong những cửa hiệu lớn nhất thì bảo có các bao nhiêu tiền, anh ta cũng không chui vào cái tàu này. Anh bếp, người Trung Quốc mặc cái quần trắng, chạy ra nói là bữa ăn đã sẵn sàng; và khi viên thuyền trưởng bước vào ca bin, gã đã thấy người thợ máy ngồi ở bàn. Anh thợ máy người dài, gầy với cái ổ ngẳng. Anh ta mặc bộ quần áo làm việc màu xanh lơ và cái áo len cộc tay để lộ ra cái cẳng tay khẳng khiu xăm từ khuỷu đến cổ tay.

- Bố sư khỉ, phải ngủ đêm ngoài biển mất thôi, - viên thuyền trưởng nói.

Người thợ máy không trả lời, và họ ăn trong sự im lặng. Cabin được soi sáng bởi một ngọn đèn dầu tù mù. Khi họ ăn hết món mơ hộp cuối mỗi bữa ăn, thì anh bếp bưng một tách trà vào. Viên thuyền trưởng đốt điếu xì gà và bước lên boong trên. Hòn đảo bây giờ chỉ là một khối đen sẫm trong đêm. Những vì sao rất sáng. Âm thanh suy nhất là tiếng sóng cồn vỗ không dứt. Viên thuyền trưởng thả người xuống một chiếc ghế và uể oải hút thuốc. Rồi có ba bốn thủy thủ tiến đến và ngồi xuống. Một người có cây đàn băng-giô và một người khác có một chiếc côngxéctina (1) . Họ dạo nhạc, và một người cất tiếng hát. Bài hát thổ dân vang lên một cách lạ lùng trong âm hưởng của những nhạc cụ kia. Rồi một cặp bắt đầu nhảy theo tiếng hát. Một vũ điệu dã man, nguyên thuỷ, hoang sơ, dồn dập, với những động tác mau lẹ của tay chân và sự uốn éo của thên hình: một điệu nhảy nhục cảm, thậm chí còn xác thịt, xác thịt mà thiếu dục vọng. Nó rất thú vật, rạch ròi, kỳ quặc mà không thần bí, tóm lại là tự nhiên gần như có thể gọi là trẻ con. Cuối cùng họ thấm mệt. Họ nằm ngả trên boong và ngủ, mọi vật đều yên lặng. Viên thuyền trưởng nặng nề nhấc thân mình khỏi ghế ngồi và lồm cồm bò qua một bạn đồng hành. Gã đi vào cabin và cởi quần áo ra, lên giường nằm. Gã thở hổn hểnh trong cái nóng của đêm.

Sáng hôm sau, khi hừng đông bò lên trên mặt biển êm lặng, khe nước giữa đá ngầm lẩn khỏi mắt họ đêm trước giờ đã hiện ra chênh chếch một chút về phía đông của nơi họ đậu. Chiếc tàu buồm tiến vào vịnh. Không có lấy một gợn sóng trên mặt nước. Sâu dưới những tảng đá san hô người ta thấy cá con đủ các màu bơi lượn. Khi đã thả neo đâu vào đấy, viên thuyền trưởng ăn bữa sáng và đi lên boong. Mặt trời toả chiếu trên bầu trời không mây, nhưng vào buổi sáng sớm thế này, không khí mát mẻ và dễ chịu. Hôm đó là ngày chủ nhật nên có một cảm giác tĩnh tại, yên ắng, như thể thiên nhiên đã đi nghỉ, điều ấy tạo cho gã một vẻ khoan khoái đặc biệt. Gã ngồi nhìn bờ cây um tùm, cảm thấy biếng nhác và thư thái trong lòng. Ngay sau đó có một nụ cười chậm rãi làm động đôi môi gã, gã ném mẩu xì gà xuống nước.

- Ta phải lên bờ mới được, - gã lên tiếng. - Cho thuyền ra nào!

Gã vụng về trèo xuống thang và chiếc thuyền chèo vào ngách vịnh con con. Những cây dừa tiến sát xuống tận mép nước, không thành hàng, mà dàn ra với một nghi thức định sẵn. Nom chúng giống vũ điệu ba-lê của các bà cô không chồng, tuổi đã lớn nhưng vẫn lả lơi, làm điệu làm bộ với vẻ duyên dáng màu mè của một thời đã trôi qua. Gã khệnh khạng đi qua đám dừa, dọc theo con đường trông rõ nét uốn lượn quanh co, chẳng mấy chốc nó dẫn gã tới một con lạch rộng. Một cái cầu bắc qua, làm bằng những thân cây dừa có khoảng một tá thân cây thành hàng một, đặt nối đầu với nhau và ở giữa chỗ nối được đỡ bằng một cây chạc cắm xuống lòng lạch. Bạn phải bước trên một bề mặt tròn, nhẵn, lại hẹp và trơn, mà không có tay vịnh. Để qua cái cầu như thế đòi hỏi phải có một đôi chân chắc chắn và một con tim vững vàng. Viên thuyền trưởng ngập ngừng. Nhưng gã trông thấy bờ bên kia, nép dưới bóng cây là một ngôi nhà của người da trắng; gã quả quyết, và khá là rón rén, gã bắt đầu bước đi. Gã quan sát đôi chân cẩn thận, và mỗi khi gặp một chỗ nối thân cây mấp mô, gã hơi loạng choạng. Với tiếng thở phào nhẹ nhõm, gã đã đi tới cái cây cuối cùng và sau rốt đặt được chân lên nền đất cứng của bờ bên kia. Gã để tâm chăm chú vào việc qua cầu khó khăn này, nên không nhận thấy có người quan sát gã, và thật là ngạc nhiên khi gã nghe tiếng người nói với mình.

(1): một loại nhạc cụ nhỏ kiểu acocđêông, có nút ấn và dải xếp nếp

To be continued...

Thursday, April 19, 2007

Đảo tường vy - An Ni Bảo Bối


Phần 1 - Cứ đi, cứ đi
13. Nhớ lại tình yêu (p.111-112)


Trên đường đi chợt nhớ lại các cuộc tình. Cảm thấy tình yêu đẹp nhất là hai người bầu bạn với nhau.

Không cần ràng buộc, không cần vòng vo, không cần sở hữu, không cần khát vọng khai thác được ý nghĩa gì từ bạn tình. Đó là thứ đã xác định phải hụt hẫng. Nhưng phải là hai chúng ta được xếp cạnh nhau, đứng ngắm cái nhân gian vắng vẻ này.

Có hai căn phòng độc lập, mỗi người đều làm việc trong phòng riêng.

Cùng đi ăn tối ngoài tiệm.

Lúc đi dạo có rất nhiều chuyện để nói.

Lúc ôm nhau, thấy được an toàn.

Không xâm phạm tự do của nhau. Không sợ anh vẫn liên lạc với bạn gái cũ.

Không bày tỏ tình cảm gì cho nhau. Bày tỏ là tìm lấy sự thay đổi.

Rất bình dị. Rất quen thuộc. Dường như mùi của anh chính là mùi trên cơ thể bạn.

Bất luận ở đâu và khi nào đều cần phải giữ cho nhau một khoảng cách.

Có thể bỏ đi bất cứ lúc nào.

Khi muốn yên tĩnh, dù anh ở bên cạnh cũng giống như đang ở một mình.

Có một phong cách sống riêng, bao gồm cả quần áo, đĩa nhạc, nước hoa, thức ăn...

Không quá nhớ nhung nhau, nhưng khi mệt mỏi vẫn biết anh là nhà.

Chúng ta rất dễ đụng nhau, bởi đều là những người ích kỷ hoặc ngu ngốc. Bọn họ yêu những người khác chỉ để chứng minh người khác cũng yêu họ. Hoặc đã tóm được trong tay, tiếc không nỡ buông, mãi cho đến khi vật nắm trong tay đã chết đi.

Tình cảm chín muồi cần mất thời gian chờ kết trái. Nhưng chúng ta đều mất kiên nhẫn. Ai có thể mất mười năm chờ đợi một người bỏ đi phương xa? Ai có thể sau mười năm tha phương vẫn quay về tìm lại người xưa cũ. Có những tình yêu do quá sốt sắng muốn đạt được danh lợi, không có cách được chứng minh, thế nên cũng không thành.




Cứ đọc An Ni Bảo Bối là lại tưởng đọc nhầm nhật ký của chính mình. Cái cảm giác đọc nhật ký của mình nhưng không phải do mình viết ra từ Hoa bên bờ đã là một trải nghiệm lạ. Vốn dĩ Hoa bên bờ được đặt trong bối cảnh Thượng Hải nên có đoạn rất sáng rõ nhưng cũng có những đoạn thật lu mờ. Trải nghiệm với Đảo tường vy thì hoàn toàn rất rõ ràng vì bối cảnh chính của nó là Việt Nam, với đầy đủ Sài Gòn, Hà Nội, Đà Lạt, Huế, Hội An... Từng ánh mắt của những con người nơi góc phố, từng quán ăn chen đầy những anh Tây ba lô hay những cô du khách Nhật đều là những gì đã từng trải nghiệm thật sự...


Ghi chú: Trong phần đầu của Đảo tường vy, An Ni Bảo Bối có viết về vùng đất tên Đại Lải với những ngôi biệt thự kiểu Pháp, núi, đồi và một rạp phim duy nhất "có một cái tên rất xa vời, được gọi là Một phần ba lại bốn. Hoặc là Một phần bốn lại ba." (p.24) Rồi cũng kịp nhận diện 2 cái tên này. Đại Lải tức là Đà Lạt (chứ không phải Đại Lãnh như trong đầu mình cứ lặp đi lặp lại vì sự thật là đang rất muốn được đi Đại Lãnh) và cái rạp phim đó là rạp 3-4. Có điều không hiểu là vì sao người biên tập sách không bị chú thêm sau khi đã chuyển ngữ nhỉ?!

Ảnh: Rạp 3-4 @ Đà Lạt - from Alamy




Sunday, April 15, 2007

Làm nhà văn không dễ tí nào


Diễn đạt cảm xúc của mình thành lời văn thì ra khó đến như vậy. Cô không biết những nhà văn khác gặp loại khó khăn nào trong quá trình sáng tác, nhưng chắc hẳn nếu sau này có ai đó hỏi, cô sẽ bảo với họ rằng đó chính là trở ngại lớn nhất của cô.

Khi bạn kiếm sống bằng việc mỗi ngày ngồi tám giờ trước máy vi tính chỉ để viết thì bạn hoàn toàn không nghĩ rằng viết lách lại cực nhọc như vậy. Nhưng việc kiếm sống đó, cái công việc mà cô thường gọi bằng cái tên “thợ viết” lại hoàn toàn khác hẳn “công việc viết văn” này. Mỗi ngày cô sẽ nhận được yêu cầu từ sếp, rằng hôm nay chúng ta cần n bài với n là một con số bất kỳ, thường thì cũng không nhiều hơn 10 cho x tờ báo mà đôi khi x lớn gấp đôi n (cũng có nghĩa là người ta có thể thấy cùng một nội dung đó, với chính xác từng con chữ trên nhiều tờ báo khác nhau). Rằng em hãy viết như thế này, như thế này, cho phù hợp với nhu cầu như thế kia của khách hàng. Và công việc thợ viết chỉ đơn thuần là chắp ghép tất cả những thông tin khách hàng cung cấp và tìm được đâu đó mà thường là trên cái kho internet khổng lồ, thêm chút gia vị là những lời văn bay bướm (nếu đó là bài cần đăng trên một tạp chí dành cho những cô nàng nhân viên văn phòng vẫn còn mơ đến chuyện nàng Lọ Lem thời hiện đại) hoặc những con số chính xác đến hàng đơn vị (nếu đó là bài muốn được đăng trên mục… tự giới thiệu của một tờ báo có tính khoa học hơn). Thợ viết trong định nghĩa của cô đơn thuần là công việc nhàm chán như thế và chả ai đòi hỏi cô phải gia giảm thêm những cảm xúc của mình vào. Thậm chí, cảm xúc thật của thợ viết – là cô – nếu lỡ bộc lộ trong bài viết còn có thể trở thành nốt nhạc nằm sai vị trí làm hỏng cả bảng hoà tấu mà sếp cô đã dày công tạo tác nên. Thứ cảm xúc duy nhất cô tìm được cho mình từ những bài viết của chính cô thường rất kỳ cục – cách cô vẫn thường gọi nó. Ví dụ như sau khi đọc tất cả thông tin khách hàng gửi đến và tìm được trên mạng về sản phẩm thuốc bổ sung sắt cho phụ nữ, cô sẽ có cảm giác mình đang thiếu sắt trầm trọng. Nếu bài viết của cô không làm cô thoát khỏi cảm giác đó thì theo cô đó là một bài viết thành công. Hoặc như hôm cô viết về loại thuốc bổ cho phụ nữ đang mang thai, cô đã tin rằng nếu một khi cô có thai, đứa con của cô có thể thiếu loại vi chất đó lắm mà nếu như vậy thì biết đâu nó sẽ tàn phế thật, như bài viết của cô đã nói.

Nhưng đó hoàn toàn là công việc của thợ viết. Còn bây giờ cô đang muốn thử làm một nhà văn. Bạn bè cô bảo cô viết rất chỉnh chu. Sếp cô nói những dòng chữ em viết ra anh không bao giờ có thể cắt gọt hay chỉnh sửa gì cả vì nó là một tổng thể như-nó-phải-thế. Và mọi người bảo cô nên thử viết một truyện ngắn hay một cái gì đó hay hay khác. Mọi người nói với cô nhiều đến độ cô tin rằng mình có thể làm được điều đó. Và cô đang thử.

Hai nhân vật của cô gặp nhau ở lưng chừng trời. Đó là một nơi rất đẹp, phía xa có núi, dưới chân có mây, hoa nở dọc những con đường mòn và trong không gian đầy ắp thanh âm của thiên nhiên. Cô gái đang đi bỗng vấp phải phiến đá to vì mải mê canh chỉnh một bức ảnh. Chiếc máy ảnh không sao nhưng để cứu nó cô gái đã vấp vào đâu đó và chân bị trật khớp. Thôi thì coi như có thêm thời gian ngồi nghỉ ngơi giữa nơi xinh đẹp này, cô gái đã tự nhủ với mình. Vài khách du lịch da trắng mắt xanh đi ngang, hỏi han cô dăm ba câu, cô bảo không sao cả, chỉ muốn ngồi lại ngắm cảnh, nghỉ ngơi và chúc họ một chuyến du lịch vui vẻ. Không biết cô nói dối giỏi hay bọn họ không để ý trong khi trò chuyện một tay cô vẫn xoa xoa chỗ chân đau mà lần lượt từng người đều cảm ơn và chúc cô ngắm cảnh vui vẻ rồi lại tiếp tục lên đường. Rồi chàng trai xuất hiện, nhận ra mắt cá chân trái của cô đang sưng lên ngay khi ngồi xuống định trò chuyện dăm câu cùng cô như những người khác. Cô vẫn giữ cái suy nghĩ rằng ở đất nước Á Đông này chỉ có những người phụ nữ thích sự độc lập, có khả năng độc lập, không còn quá trẻ nhưng chưa kịp già, có một sức quyến rũ nhất định với những người đàn ông quanh mình nhưng không có bạn trai mới thích đi du lịch một mình. Còn những người đàn ông ở độ tuổi của cô trở lên dường như chỉ quen với cách sống bầy đàn, không chịu được sự cô độc và những anh chàng đi du lịch một mình thường là loại đang gặp rắc rối với cuộc sống hoặc chỉ là những anh nghệ sĩ nửa mùa. Nhưng chàng trai ngồi cạnh cô không phải một trong hai loại đàn ông đó, và anh ta đang đi một mình. Và rồi…

Và rồi sao nữa? Cô cũng không biết. Cái gì đang chờ đón câu chuyện tình yêu của hai nhân vật ấy? Cô không biết phải viết thế nào về khoảnh khắc đầu tiên ấy trong trái tim hai nhân vật của mình. Hồi hộp? Vui vẻ? Không, nó hẳn phải là cái gì đó khác. Ngôn từ của một cô thợ viết bỗng dưng tắc tị.

Mà cái nghề thợ viết đến với cô thật tình cờ, có lẽ điểm giống nhau nhất của nó với việc trở thành một nhà văn là nghề chọn người chứ không phải do người chọn nghề. Cô đã quyết định chọn nghề báo với hy vọng sẽ được gặp thật nhiều những con người thú vị, được đi thật nhiều những nơi mới lạ. Vậy mà ra trường chưa đầy một năm cô lại quyết định cuộc đời mình sẽ đóng đinh bên chiếc máy vi tính mỗi ngày tám tiếng (hoặc hơn), trong một văn phòng ở cái nơi không thấp cũng không cao của cái cao ốc ngay trung tâm thành phố này. Đó là ngày sếp gặp cô và bảo, anh đã đọc qua những bài viết của em, em không nên quăng mình ra ngoài những cực khổ kia, máy vi tính hiện đại, trong một căn phòng máy lạnh mát rượi và một mức lương cao sẽ hợp với em hơn. Nói cho cùng thì nghề thợ viết giúp cô sống khoẻ, chả bao giờ phải lo lắng nếu ngày mai hết tiền thì mình sẽ thế nào như những ngày còn rong ruổi ngoài phố với mơ ước trở thành một nhà báo “vĩ đại”. Đồng lương trong ngành quảng cáo tiếp thị luôn là niềm mơ ước của nhiều người. Nhưng bù lại, cô phải dán mắt vào màn hình ngày qua ngày, phải quên mất mình ghét cái thuốc chống ghẻ đó vô cùng khi phải viết những dòng ca ngợi công dụng của nó, và đôi khi quên rằng mình còn rất nhiều sở thích hay ho mà lâu rồi không biết làm sao nhìn ngó lại.

Cô lấy chiếc điện thoại khỏi túi xách. Em muốn gặp anh, 7 giờ em đợi anh ở chỗ cũ. Đã lâu lắm rồi cô không nhắn tin cho anh vào những ngày cuối tuần, cũng lâu lắm rồi cô và anh không đến quán café vào chiều cuối tuần. Nhưng hôm nay cô muốn gặp anh.

Từ ngày anh đám cưới, cô hạn chế gửi tin nhắn cho anh, những tin nhắn vu vơ của đứa em gái không có bạn trai. Cô biết khi nhận được những tin nhắn của mình anh sẽ trả lời, theo một cách nào đó mà chắc chắn cô sẽ phì cười dù rằng hiểu rõ anh đang chọc ghẹo cô. Ở công ty, cô có vài đứa lính nhỏ - như cô vẫn thường khoe với anh – đi theo học việc. Đó là những cô cậu bé mới ra trường, hình ảnh của chính cô vài năm trước, được sếp tin cẩn quăng vào tay cô huấn luyện. Dạy bảo đám lính nhỏ ấy thật không khó lắm. Sếp có khả năng tìm ra người có tài giữa mớ hỗn độn những tấm đơn xin việc. Chúng rất nghe lời cô, một hai cũng dạ thưa chị. Với khách hàng, cô cũng là một tay viết có nghề, đáng được tôn trọng. Nhưng với anh, cô luôn là một cô bé con. Cô vẫn thắc mắc không biết đến năm mình đã là bà già năm mươi tuổi nhăn nheo, anh có còn coi mình là cô bé con nữa không. Cô muốn hỏi anh, nhưng cô biết nếu hỏi anh điều đó thì không khác gì tạo thêm cơ hội để anh nhạo cô vài câu gì đó rồi lại phá lên cười, rõ ràng em vẫn chỉ là một cô bé con.

Lẽ ra cô phải nhắn rằng em có một buổi tối rảnh rang, nếu anh không bận việc gì thì hãy đến gặp em ở chỗ cũ lúc 7 giờ, nếu không thì hẹn anh lúc khác. Cô đang ngồi ở chỗ cũ, một quán café yên tĩnh với tiếng nhạc vừa phải, quán tối, chủ yếu được rọi bằng ánh nến ở mỗi bàn và nghĩ vu vơ. Biết đâu anh đang bận việc gì đó, biết đâu anh đang chở vợ về thăm nhà. Lẽ ra mình không nên làm phiền anh nếu anh đang bận. Cô không thích làm phiền người khác. Cô đã quen với nếp giáo dục của gia đình, nếu việc gì có thể tự giải quyết thì đừng bao giờ làm phiền người khác. Bạn bè bảo chính điều đó làm người khác ngại khi ở gần cô. Họ có cảm giác bên cô mình là người thừa. Có lẽ vì thế mà những chàng trai không ở bên cô lâu, họ chẳng biết phải che chở cho cô gái này như thế nào khi cô ta đã có đủ khả năng tự vệ cho mình.

Cửa quán xịch mở. Trong bóng tối mờ mờ cô vẫn nhận ra nụ cười của anh. Có lần cô bảo anh không phải người xấu, nhưng nếu chưa từng biết anh mà lại bắt gặp nụ cười ấy thì người ta không thể nghĩ tốt về anh được. Không có gì thay đổi, anh ngồi vào chiếc ghế đối diện cô. Anh và cô luôn ở tư thế đó trong những cuộc trò chuyện. Không bao giờ cùng một chiến tuyến.

Không phiền anh đang làm nhiệm vụ người chồng tốt chứ? Anh có bao giờ bảo rằng anh là ông chồng tốt đâu nhỉ! Nhóc, đùa thôi, bà xã anh về bên nhà ông bà già rồi, tối mới về. Anh đang định họp hội đồng hành với các chiến hữu. Dù sao thì café cũng tốt hơn bia rượu nhỉ!

Em đã bắt đầu viết, truyện ngắn, về tình yêu. Anh suýt phì cười khi nghe cô nói, ly café trong tay đảo mạnh. Và em đang tắc tị phải không bé con? Cô luôn bất ngờ khi anh nói chính xác những điều trong đầu mình. Mọi người đều khuyên em nên viết, nên thử tập làm nhà văn mà. Anh đâu có khuyên em điều đó bao giờ. Nhưng ngoài anh ra ai cũng khuyên em như vậy cả. Tại sao lại viết về tình yêu? Vì đó là điều mọi người đều viết. Không biết bao giờ cô bé của tôi mới chịu lớn lên nhỉ! Em đã viết đến đoạn nào rồi? Em không biết nên khởi đầu tình yêu đó thế nào. Và em cũng không biết nó sẽ có hình thù gì và rồi sẽ đi đến đâu phải không? Cô lại tròn mắt nhìn anh. Đừng có nhìn anh như thế chứ! Chuyện này lẽ ra em phải tự lường trước cho mình mà. Em đang viết về điều em chưa bao giờ biết. Em định tự mình vẽ ra nó, như nàng Lọ Lem sẽ gặp Bạch mã Hoàng tử trong truyện cổ tích à? Em không biết, em cứ nghĩ tình yêu sẽ tự đến khi những câu chữ của em đưa hai nhân vật đến với nhau. Nhưng ngay ở đó em lại đột nhiên nhận ra mình không biết nên thể hiện nó thế nào. Vì em không biết nó như thế nào, nhóc ạ! Nghề thợ viết của em chỉ cần những con chữ xếp hàng ngay ngắn, nhưng để làm một nhà văn em cần cảm xúc thật, hiểu chưa nhóc?

Ừ, em hiểu rồi. Cô nhăn nhăn cười. Những sở thích hay ho từ lâu cũng đã bị cô gác sang một bên để lo cho những trang viết không cảm xúc. Đã quá lâu từ lần cuối cùng những làn mây vây quanh bước chân cô. Ừ, em thông rồi. Cám ơn anh! Về thôi anh, muộn rồi! Này, em sẽ vẫn viết cho hết câu chuyện đó phải không nhóc? Anh nói khi lên xe chuẩn bị chạy đi. Cô mỉm cười vẫy vẫy tạm biệt. Dĩ nhiên rồi, nhưng mai em sẽ xin nghỉ phép dài hạn trước đã. Cái nơi ở lưng chừng trời giờ không biết thế nào rồi, có lẽ Hoàng vẫn đợi cô. Khi nào trở về em sẽ có quà cho anh.

CZC



Saturday, April 07, 2007

Kiếp sau - Marc Levy

Nếu thật sự có một kiếp sau nào đấy, thì kiếp trước, và trước, và trước... nữa là nơi nào? Anh ở đâu và em ở đâu?... - 2/2007, T.C



Trước tiên phải khen các nhà xuất bản và giới phát hành sách. Ngày nay các anh chị không thụ động ngồi chờ người đọc tìm đến với mình mà rất chủ động đưa sách đến với độc giả bằng nhiều chiêu thức, từ mục giới thiệu sách trên báo đến tạo scandal để làm PR... Tôi tin rằng những bài giới thiệu sách trên các báo thật sự phát huy tác dụng khá mạnh. Ít nhất thì cũng 1 người vì những lời giới thiệu này mà đã tìm đọc dăm ba quyển sách. Kiếp sau (của Marc Levy) là một trong số đó.

Thật ra thì Marc Levy không phải là một tác giả lạ lẫm với giới trẻ mặc dù ông là một nhà văn chưa già. Khá nhiều khán giả Việt Nam đã từng được tiếp cận với ông một cách gián tiếp qua bộ phim tình cảm lãng mạn Just like Heaven - chuyển thể từ tác phẩm If only it was true (tức Và nếu điều này là có thật). Tuy nhiên, sự thật là tôi chưa xem bộ phim này cho đến trước khi đọc Kiếp sau và sau đó thì đã có xem qua nhưng cũng chưa trọn vẹn.

Theo những lời bạt được viết trên bìa sách, Kiếp sau là quyển tiểu thuyết tình cảm được cả người đọc ưa thích lẫn giới phê bình đánh giá cao trong dòng chảy khá hối hả của văn chương đương đại. Rằng cũng theo những lời phê bình này, Kiếp sau thực sự đã mô tả được một tình yêu sâu sắc, thứ tình yêu mà cái chết không thể chia lìa và cho dù phải qua bao nhiêu kiếp người ta vẫn không thể quên được nó, vẫn phải đi tìm nhau. Bên cạnh đó, Kiếp sau cũng được đánh giá cao bởi sự kết hợp hài hoà cả những yếu tố tâm linh và trinh thám.

Sự thật về quyển sách này?

Thực tế là khi đã mở quyển tiểu thuyết này ra và bắt đầu lật những trang đầu tiên tức là bạn đã quyết định gắn kết với nó đến trang cuối cùng. Marc Levy thật sự thành công trong việc buộc độc giả khi đã cầm quyển sách lên thì không thể bỏ nó xuống nếu chưa hoàn tất trang cuối. Ông đã thành công khi xếp chồng các chi tiết lên nhau liên tiếp, buộc người đọc phải tìm cách tháo ra từng lớp, từng lớp một và vì thế bạn sẽ giống như rơi vào cơn nghiện khi chơi trò Bejeweled hay Xếp gạch trên máy tính. Bạn sẽ phải hối hả bước theo từng bước chân của các nhân vật, sẽ chạy theo họ từ thành phố này sang thành phố khác để tìm cho ra đáp án.

Tương tự như các nhà văn đương đại khác của thế giới, Marc Levy vận dụng khá nhiều những kiến thức về các lĩnh vực khoa học và nghệ thuật vào tác phẩm của mình. Tuy nhiên, không như Dan Brown và Janusz Leon Wisniewski, vốn tri thức của Marc Levy được áp dụng trong tác phẩm mềm mại hơn. Sự mềm mại và uyển chuyển này giúp tác phẩm của ông mang tính đại chúng hơn, dễ tiếp cận hơn với phần đông độc giả so với tác phẩm của 2 nhà văn kể trên.

Tuy nhiên, với tôi, nếu quyển sách này được xếp vào loại tình cảm thì nó hoàn toàn là 1 tác phẩm thất bại. Marc Levy mô tả rất chi tiết về tình yêu ấy, rằng họ phải chạy đua từ kiếp này sang kiếp khác để tìm lại nhau sau khi đã thất lạc bởi cái chết. Ông cũng đã viết về tình yêu ấy như là nguồn sống duy nhất của linh hồn mà nếu đánh mất nó thì linh hồn cũng không còn có thể tồn tại. Nhưng... đó chỉ đơn thuần là lời văn của tác giả và tôi hoàn toàn không cảm nhận được tình yêu đó giữa 2 tâm hồn ấy. Tôi chỉ thấy họ hối hả vì sợ không tìm ra được sự thật, hối hả vì sợ lạc nhau thêm 1 lần nữa. Tôi thấy tất cả, thấy cả cái chết một lần nữa đến với họ. Tôi chỉ không thấy cái duy nhất mà lẽ ra tôi cần phải thấy sau tất cả những cố gắng của tác giả: tình yêu. Tôi không thấy được sự rung động của mình ở tư cách một độc giả với mối tình lẽ ra phải đầy bi ai và mãnh liệt ấy.

Tôi nghĩ khi chấp bút Marc Levy đã muốn tạo ra một chuyện tình cảm động, một mối tình Romeo - Juliet của thế kỷ 21 như những nhà phê bình khác nhận xét, trên cái nền của cuộc điều tra hối hả. Nhưng... nếu được đứng ở vị trí một người phân loại sách, thật lòng tôi sẽ đặt Kiếp sau vào một thể loại khác, với tôi nó nên là tiểu thuyết điều tra trinh thám pha lẫn yếu tố tâm linh trên nền của câu chuyện tình giữa Jonathan và Clara thì hợp hơn.

Dù sao đi nữa, thật sự tôi không phủ nhận 2 điều thu hút tôi trong quyển tiểu thuyết này. Đầu tiên là thuyết về linh hồn đi tìm nhau và không gian đang du hành trong chiều của thời gian. Tôi không biết thuyết này do Marc Levy đã lấy từ những nhà nghiên cứu khác hay tự bản thân ông chiêm nghiệm ra và sáng tạo thêm cho tác phẩm của mình nhưng tôi thật sự cảm thấy rất thích thú với nó. Có lẽ sau câu chuyện thần thoại của Ấn Độ về 2 nửa bị cắt đôi của cái hình hài ban đầu mãi đi tìm nhau để ráp lại thành một hình hài trọn vẹn thì thuyết 2 linh hồn tìm về nhau này thật sự rất đáng chú ý. Thứ hai, tuy ông không thành công trong việc bộc lộ tình yêu giữa Jonathan và Clara, tôi lại nhận chân ra một tình yêu khác. Tôi bị cuốn hút hoàn toàn vào sự gần như "thần tượng hoá" của Peter dành cho Jonathan. Peter tự nguyện bị Jonathan kéo chìm vào cái thế giới hội hoạ thế kỷ 19. Peter tự nguyện bỏ tất cả những gì mình đang cố gắng níu kéo cho sự nghiệp vì tình yêu của Jonathan. Peter yêu tất cả những gì Jonathan yêu, từ con phố gần cảng, từ cái chợ trời cho đến bức tranh không biết có tồn tại hay không. Tôi tự hỏi khi tình yêu của một người đàn ông này trở thành tình yêu của một người đàn ông khác, đó là thứ tình cảm gì? Thứ cảm xúc trong tình yêu như của Jonathan và Clara bạn có thể tìm thấy nhan nhản trong những quyển tiểu thuyết diễm tình ngoài kia, nhưng thứ tình cảm giữa Peter và Jonathan mới là điều khác lạ thật sự.

Sau khi đọc xong Kiếp trước, tôi đã đọc qua một vài chương của Và nếu điều này là có thật (tôi mạn phép viết lại tên tác phẩm hơi khác so với nguyên văn trong bản dịch của vnthuquan) và đã rút được một vài motif trong bút pháp của Marc Levy.

Văn phong của ông thật sự hối hả, chính nhịp điệu này đã cuốn độc giả vào một cuộc đua, cuộc đua với thời gian của nhân vật. Đây có thể xem như một thành công trong bút pháp điển hình của ông. Người đọc chính vì yếu tố này trong bút pháp của ông mà cùng bị kéo vào với cuộc đua của nhân vật.

Hãy đừng quên xuất thân của Marc Levy, ông là một kiến trúc sư và ông chia sẻ cuộc đời mình một nửa ở New York, nửa kia ở Paris. Theo tôi, cách ông mô tả vẻ đẹp của thành phố lúc giao thoa của ngày và đêm (cả hoàng hôn lẫn bình minh) từ những ô cửa kính rộng của những toà nhà cao tầng chính là ánh xạ của chính ông vào nhân vật của mình. Nói một cách khác, cái nhìn của từng nhân vật từ cao độ ấy, từ tầm mắt ấy cũng chính là cái nhìn của chính ông.

Tôi không hiểu cuộc sống của con người Mỹ quốc hối hả đến mức nào và họ xa cách nhau đến mức nào. Tôi chỉ biết rằng Crash đã đoạt Oscar của người Mỹ và trong những tác phẩm của Marc Levy sự va chạm tạo nên phép màu. Họ chạm vào nhau và họ nhận ra nhau. Nếu không chạm vào nhau thì sao? Họ sẽ mất nhau chứ? Không ai biết điều đó cả và tôi tin rằng chính Marc cũng không biết. Ông chỉ biết rằng phải chạm vào nhau thì điều đó mới đến, những linh hồn bằng một cách nào đó qua thân xác nhận ra nhau...

Bạn sẽ đọc chứ? Cả Kiếp trước và những tác phẩm khác nữa của Marc Levy?

Chú thích:
- Bìa bản tiếng Pháp.
- Kiếp sau = La prochaine fois - 2004
- Và nếu điều này là có thật = Et si c'était vrai - 1998

Sunday, January 21, 2007

Ngoại tình thứ tư

Bê nguyên xi về từ blog của Trang Hạ

(Theo đơn đặt hàng chú Đoàn Thạch Biền)

- Em thích anh!

Đàn bà lắc lư ly rượu trong giữa những ngón tay, điềm nhiên nói.

- Anh có vợ rồi!

Đàn ông chạm vào cái nhẫn tay trái.

- Em không quan tâm! Em chỉ cần biết, anh thấy sao. Anh thích em không?

- Đoán được ngay câu trả lời!

Đàn ông ngửa đầu lên, đánh giá nhan sắc trước mặt.

Hai tư, trẻ, hãnh tiến, tuổi khá thú vị của một phụ nữ.

Da trắng nõn, thân thể đầy đủ sức sống, một đôi mắt sáng biết nói ra thứ mình muốn.

Một người đàn bà đáng để chú ý, tiếc!

- Nếu anh cũng thích em, em không ngại gì làm tình nhân của anh luôn!

Đàn bà không chờ đợi được, dù chỉ một giây, xỉa một câu, nôn nao chờ nôn nao quan sát.

- Anh yêu vợ!

Đàn ông kiên quyết.

- Anh yêu vợ? Yêu vợ cái gì? Vợ bây giờ? Chắc hẳn già hơn vợ ngày xưa, biết đâu trông chả ra hình người? Nếu không, sao chả bao giờ thấy anh mang vợ lên cơ quan?

Đàn bà ghen tuông thường nhiều lời?

Kể cả ghen tuông với đàn ông không của mình?

- Sao em lại thích anh?

Đàn ông chặt đứt chuỗi lời cay cú của người ngồi bên kia bàn.

- Già dặn, từng trải, cử chỉ phong thái rất đàn ông, biết quan tâm người khác, rất nhiều rất nhiều.

Đàn bà vội vã khẳng định. Thở dài.

- Và anh rất khác bọn đàn ông quanh em. Anh đặc biệt!

Đàn bà nhìn thách thức.

- Thế em đã gặp anh ba năm trước chưa?

Đàn ông đốt một điếu Davidoff.

- Không biết. Không cần biết! Ngồi tù à?

Đàn bà môi cong bất cần.

Ba năm trước, anh là một trong những thằng đàn ông tầm thường trong mắt em!

Đàn ông thả khói, nheo mắt nhạo báng. Đàn bà tóm ly rượu quên làm dáng, mạch máu xanh lên cổ tay.

- Tốt nghiệp đại học quèn, nghề vặt, cả ngày uống rượu, tức tối! Đàn bà mình thèm thì nó không thèm mình, chỉ biết lấy đĩ ra trút cơn, thoả mãn có lần ngay trong sàn, bị cớm tóm.

- Thế… sao…

Đàn bà hoài nghi, nhưng đàn bà bắt đầu háo hức.

Đàn bà dễ bị dụ vào cuộc tò mò như cuộc vui.

Mới hai tư, thèm trải đời, thèm được nếm, cuộc đời là cả một cuộc nếm.

- Vì cô ấy?

Đàn bà đoán và hờn. Mắt loáng lên bắt đèn, sáng lên một thoáng ánh mê li.

- Cô ấy dễ dàng nhìn xuyên qua, nắm lấy ẩn ức trong đáy tim. Dạy tôi rất nhiều điều trong đời.

Rượu lặng im vành ly trên bàn.

- Cô ấy làm tôi không còn cay cú được thua, nhìn xa hơn, sống thiện hơn.

Chữ tôi buông vào cô đơn, như tự nói. Đàn ông tự nghe giọng mình.

- Hồi đó tôi sân si như một đứa trẻ con trước mặt cô, có lẽ, tôi nhìn cô ấy giống cách em đang nhìn tôi, lạ, kiêu ngạo và bất trị.

Đàn bà vội vã cụp mi xuống. Ngón tay bỗng dưng.

- Tôi nghe cô ấy, tôi chấp nhận hiện thực, tôi cố gắng để tôi đừng rơi vào trong vô vàn.

Khó hiểu, ra vẻ hiểu, ngắm ngón tay. Đường gân xanh giống ai hai tư? Nếu là tình nhân, hẳn sẽ rất êm và đau?

Đàn bà hỗn loạn cảm xúc.

- Cuối năm đó, tôi đổi việc tốt hơn, chúng tôi cưới nhau. Hai người, một giường, nhà rỗng toang, cưới một năm mới mua được nhẫn cưới.

Đàn bà lén nhìn tay đàn ông. Tay trái trong bóng tối tay phải.

Mẩu tàn thuốc dài hơn, gẫy gục xuống gạt tàn buồn.

Dường như thêm chỗ ngồi bên quầy bar rộng mênh mông. Một hơi thở nhẹ trong suốt.

- Rượu nhiều, thân thể mệt, mỗi tối cô ấy đun cho tôi bát canh bổ uống trước khi ngủ. Suốt đời tôi sẽ không bao giờ quên mùi vị đó.

Đàn ông độc thoại. Đàn bà nhắm mắt. Cái mùi vị đó, thân thể mệt, rơi vào trong vô vàn.

- Mười giờ rồi!

Lần đầu tiên đàn ông mỉm cười với đàn bà.

- Em ạ, tôi không bao giờ, tôi không thể, làm gì không phải với cô ấy!

- Em thua rồi!

Đàn bà chua chát, cười mỉm miệng.

- Nhưng khi bằng tuổi cô ấy, em sẽ còn đáng kể hơn!

Đàn bà tự an ủi mình.

- Đúng, lúc đó em sẽ có một người đàn ông hơn anh nhiều! Canh nguội mất! Anh tiễn em!

Chữ anh buông ra tự tại.

- Không cần, em tự về! Anh về sớm với cô ấy đi!

Đàn bà thành thật nhắc.

Đàn bà quay lại một lần nữa dưới ánh sáng nhiều màu hỗn loạn. Hai tư run rẩy:

- Cô ấy đẹp chứ?

- Ừ, rất đẹp!

---//---

Đàn ông mở cửa, vào phòng ngủ, bật lên chiếc đèn nhỏ ấm áp, ngồi xuống mép giường, tha thiết.

- Em ạ, đã người thứ tư rồi.

- Em ạ, anh biết nhiều người thích anh.

- Em ạ, rồi sẽ có ngày anh sa ngã mất.

- Em ạ, chỉ có em nhìn thấy nước mắt anh.

Giọt nước mắt lăn ra trong căn phòng trống.

Một giọt nước mắt trên thiên đường cũng đã rơi.

Nghe nói, những người đã chết trong hạnh phúc thường làm mưa xuống ấm áp.


Trang Hạ viết

(theo một tình tiết tẻ nhạt trên mạng)


Giữa đống comment về cái truyện này, có 1 cái của ai đó nick Thương Nhớ Mười Hai (làm nhớ quyển sách của cụ Vũ Bằng quá), nguyên văn thế này: "O doi co hai loai phu nu. Mot loai yeu dan ong khi ho chua la gi, va o ben dan ong den khi ho da thanh mot cai gi do. Loai kia chi nhin thay dan ong khi ho da thanh mot cai gi do, vay nen phan lon luon yeu nhung nguoi da co ben minh mot nguoi dan ba." - Coi như mượn tạm thay cho ý kiến của chính mình về truyện này.

Riêng về văn phong thì chắc Trang Hạ viết hơi vội, chưa chỉnh sửa nhiều nên có vài đoạn không "đắt" lắm, hơi thừa. Có câu này thì cảm thấy không thích, không hài lòng, không cùng quan điểm: "Nhưng khi bằng tuổi cô ấy, em sẽ còn đáng kể hơn!" thật ra cái chân lý là "không bao giờ bằng tuổi cô ấy cả, đơn giản là vì cô ấy luôn đi trước một đoạn mất rồi!"



Sự thật mà cả anh và em đều biết: 3 năm trước em cũng chưa từng nhìn thấy anh, dù đã hơn đôi lần gặp gỡ...

Wednesday, January 10, 2007

Anh có xê ra không thì bảo?!

Lâu rồi để cái nhà này mốc meo cả lên, làm 1 màn khai vị đầu năm. Đổi style 1 tí nhé! Have fun!

- Anh có thể mời em uống gì được không?
+ “Ồ, thực ra em muốn cầm tiền hơn đấy.

- Anh là nhiếp ảnh gia. Anh đã tìm kiếm khuôn mặt của em từ lâu lắm rồi.
+ Em là bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ. Thực tình em cũng đang tìm một khuôn mặt giống anh.

- Chào em. Chẳng phải chúng mình từng hò hẹn sao? Một hay hai lần ấy nhỉ?
+ Có lẽ là một lần thôi. Em không bao giờ phạm sai lầm đến lần thứ hai cả.

- Em làm thế nào mà lại xinh đẹp thế?
+ Có lẽ em lấy hết phần của anh chăng?

- Em đi chơi với anh vào thứ bảy này chứ?
+ Xin lỗi nhé, cuối tuần này em đau đầu rồi.

- Anh nghĩ anh có thể làm cho em vui đấy.
+ Tại sao? Anh sắp biến khỏi đây hả?

- Em sẽ nói gì nếu anh ngỏ lời cầu hôn bây giờ?
+ Chẳng nói gì cả. Em đâu có vừa nói vừa phá lên cười một lúc được.

- Anh hỏi tên em được không?
+ Để làm gì? Không phải anh đã có một cái tên rồi à?

- Mình đi xem một bộ phim nhé?
+ Em xem phim đó rồi.

- Chẳng phải anh từng thấy em ở đâu đó rồi sao?
+ Vâng, vì thế mà em không lui lại chỗ đó bao giờ nữa.

- Chỗ này còn trống không?
+ Còn đấy. Và chỗ này (tức là cái chỗ mình đang ngồi í) cũng sẽ trống nếu anh ngồi xuống.

- Anh muốn gọi điện cho em. Số của em là gì nhỉ?
+ Có trong danh bạ điện thoại đấy.

- Nhưng anh chưa biết tên em.
+ Cũng ở trong đó mà.

- Anh rất biết cách chiều phụ nữ.
+ Vậy hãy để cho tôi yên.

- Anh muốn tặng em cả con người anh.
+ Xin lỗi, em không nhận quà rẻ tiền bao giờ.

- Vì em, anh sẽ đi đến tận cùng thế giới.
+ Rồi anh sẽ ở đó luôn chứ?

Soure: Tiền Phong


Tuesday, November 21, 2006

Sách, sách và sách...

2 ngày CN liên tiếp đọc ngấu nghiến mỗi ngày một quyển sách. Xin giới thiệu cùng mọi người.

1. Rừng Na Uy - Haruki Murakami

Xem link này để biết thêm chi tiết qua lời của thầy Phan Nhật Chiêu - 1 người có thể coi là nhà nghiên cứu hàng đầu về văn học Nhật tại TP.HCM (nói nhỏ thế thôi chứ nhận là của cả VN thì óach quá): http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=160589

Quyển tiểu thuyết này đã được biết đến từ thời còn mài đũng quần ở giảng đường ĐH. Những đứa học trò từng học với thầy Nhật Chiêu đều ít nhiều một vài lần nghe về Murakami và Rừng Na Uy. Tuy nhiên, luôn cảm thấy có cái gì đó rất xa lạ với những trang viết của tác giả này và ít nhiều thích Kenzaburo Oe hơn.

Kỳ nhiều lần suggest đọc quyển tiểu thuyết đã làm Kỳ "muốn hành động, muốn..." này. Nó là quyển tiểu thuyết mỗi lần cầm lên Kỳ đều phải đọc ngấu nghiến, không thể dứt ra được.

Vẫn không có dự định đọc.

Nhưng rồi hôm vào nhà sách, hỏi mua quyển sách khác, "Sách vừa hết". Vơ vất... "Thôi chị cứ lấy cho em quyển nọ" Vì không thể nào vào nhà sách với quyết tâm mua sách về đọc mà lại không đem về một cái gì đó có thể đọc.

Từng trang sách trôi đi. Hình ảnh anh hiện ra ngày một rõ ràng, cùng với lùng nhùng những dục vọng của đám thanh niên trôi giữa thời đại trong truyện. Muốn cùng anh chia sẻ quyển sách đầy những tình dục, đen tối, cái chết này... Nhưng chỉ mươi trang ngắn ngủi... Cái cảm giác "muốn chia sẻ với anh" tắt ngấm. Hình bóng anh trong đầu méo mó đi. Dị dạng. Quyển sách cứ đi hết trang rồi lại trang... Mọi thứ trôi tuột đi. Gấp quyển sách lại, đầu óc rỗng không. Không cảm xúc, không lay động. Cảm thấy chiều di chuyển của cảm xúc cực kỳ đơn giản, như chưa bao giờ đơn giản hơn. Nhưng bé Q bảo, chỉ 1 quyển tiểu thuyết mà biến chuyển tâm trạng như vậy là phức tạp, rất phức tạp mới phải.

Không thể nào. Rõ ràng nó rất đơn giản.

Cuối cùng cũng quyết định chia sẻ với anh...

Và rồi anh cũng có thời gian đọc nó, giữa khoảng hẹp của những ngày bận rộn.

Em thấy mình đã đọc quyển sách này quá trễ. Thời gian tốt nhất để đọc nó là giai đoạn hình thành nhân cách.
Nhưng may là chúng ta không đọc nó vào thời điểm đó. Nếu là anh, sau khi đọc nó xong có lẽ anh đã tự tử. Hệt như những nhân vật trong truyện.
Em thấy mình cũng không khác.
Anh không thích cách giải quyết của người Nhật. Họ thích chọn cái chết quá.
Đó là văn hóa của họ.
Đó là một sự lựa chọn. Ít ra họ cũng có thể tự mình định đoạt điều duy nhất trong cuộc đời: sống hay chết...

Em quên hết rồi.
Nội dung không mới, cấu trúc không mới, chỉ có cách thể hiện khác lạ.
Cách dùng từ, câu chữ mới. Còn lại thì không đọng lại gì cả...

Tác giả này khá hiểu đàn ông, nhưng phụ nữ thì dường như không hiểu nhiều.
Murakami là đàn ông. Đàn ông Nhật. Cho dù cách tân mấy thì vẫn không thoát sự áp đặt quen thuộc lên người phụ nữ...

Một quyển sách thích hợp cho người đang trên đường hình thành nhân cách nhưng chống chỉ định những tâm hồn yếu đuối và có quá nhiều mảng tối.

2. Hoa bên bờ - An Ni Bảo Bối
Cái bài điểm sách này chính nguồn căn của việc đột nhiên bật dậy chạy ra nhà sách:
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=171706

Vậy mà mãi gần 1 tuần sau mới vô tình va phải nó giữa hội sách. Giảm 30% giá bìa và khá ngon lành. Cuốn sách duy nhất trong nhiều năm trở lại đây vừa đọc xong lại muốn ngay lập tức mở ra đọc lại.

(p.68) ... Vì nguyện vọng của một phụ nữ nếu không thể thực hiện thì không thể tiêu tan, chỉ có tăng thêm mà thôi.

(p.25) ...tình cảm có khi chỉ là chuyện của một người. Chẳng liên quan tời bất kỳ ai. Yêu hoặc không yêu chỉ có thể tự mình ngắt bỏ. Vết thương là nỗi nhục do người khác đem lại, ảo giác do mình tự lao theo.

(p.16) Nhưng tôi thấy, bạn bè cũng phải chia loại căn cứ vào nhu cầu của nhau để lựa chọn phương thức thích hợp. Chẳng hạn có loại bạn chuyên tâm sự, ta không nên tới kiếm họ vay tiền. Có loại bạn chỉ có thể làm tình, ta phải phân tách rõ giữa linh hồn và thể xác. Dễ làm tổn thương tới người khác và cho chính mình luôn là dạng người không rõ ràng đường biên phân cách đó.

(p.115) Đa số đàn ông trên thế giới đều như vậy. Vừa cần một sự gửi gắm tình cảm có thể tin cậy được, vừa âm thầm dõi mắt ra phương xa. Giống như một người ăn no trước, rồi lặng lẽ tính toán chọn lấy một món tráng miệng. Một cách làm vừa ích kỷ vừa bản năng.


Một quyển sách mà đọc vào sẽ có hẳn 2 thái độ rất rõ ràng: thích và không thích. Những người thích sự ngăn nắp, gọn gàng, khúc chiết, rành mạch sẽ không chịu nổi mớ hỗn độn của nó. Quyển sách mà 3 trang giấy khiến người đọc có cảm tưởng mình vừa rơi vào một đống nhùng nhằng của hơn 30 trang thì rõ ràng khó mà "cảm" được. Nhưng đã có người viết thay mình tất cả, nói thay mình tất cả thì há chẳng phải là một điều tốt đó sao... Vậy thì cớ gì mà một con người rất hỗn độn, với suy nghĩ rối nhùi lại không thích nó?!

Thượng Hải không hề xa lạ. Những hàng cây ngô đồng với màu xanh mướt màng không hề xa lạ. Những con người không xa lạ. Kiều không xa lạ...

Em cũng đã muốn làm bộ phim đó nhưng có lẽ em không được như Kiều...

Sunday, November 19, 2006

Nắng ở trên cao

Cảm giác ngồi cạnh anh vào lúc này thật lạ. Nàng chưa bao giờ trải qua trong hơn 20 năm từ ngày xuất hiện trên đời. Mà nàng bỗng nghĩ, biết đâu mình đã từng có cái cảm giác này, chỉ là khi đó mình còn quá nhỏ để nhận ra nó mà thôi. Nghĩ đến đó nàng suýt bật cười. Đại khái như là cảm giác của một cái bào thai còn trong bụng mẹ. Vừa êm ái, ấm áp, an toàn nhưng cũng vừa bồng bềnh như giữa một cái hồ nước to.

Nàng và anh đang ở trên độ cao 10.000m - đó là nàng nghe người ta nói chứ gần như clueless(*). Kiến thức vật lý (môn nàng tự nhận thấy là mình ẹ nhất) từ thời còn đi học chỉ còn trong nàng duy nhất về sự ma sát hay cọ sát gì đó. Đủ để nàng biết là nếu 2 bàn tay miết vào nhau thì sẽ sinh ra nhiệt luợng và người ta sẽ có cảm giác nó ấm lên. Nhưng đôi khi nàng cảm thấy dường như nó cũng chẳng phải là một phần của kiến thức vật lý nữa vì rõ ràng bà lão ăn xin ở đầu phố nàng ở có biết tí gì về vật lý đâu mà vẫn hay xoa 2 bàn tay với nhau mỗi khi trời lạnh.

Giữa anh và nàng gần như không có khoảng cách. Tay ghế nàng đã đẩy lên từ lâu - để anh thoải mái ngủ - như nàng giải thích với anh. Nàng cuộn mình trong chiếc chăn mỏng, mắt khép nhưng đầu óc tỉnh như sáo. Anh chỉ đắp hờ tấm chăn và ngủ rất ngon. "Anh mệt và buồn ngủ quá!" Anh chỉ nói có thế với nàng và rồi chìm vào giấc ngủ.

Cánh quạt máy bay ồn kinh khủng. Nhưng tiếng cánh quay đều đều không làm người ta khó chịu, trái lại dường như có tác dụng ru ngủ dễ dàng hơn.

Nàng nói "Anh nè! Giúp em chuyện này nha!" Anh sẽ hỏi nàng "Chuyện gì em?" "Anh hứa là giúp em đi rồi em nói! Không hại gì đâu anh!" "Uhm..." "Anh nắm tay em nhé! Nắm thế này này" - nàng vừa nói vừa luồn những ngón tay của mình vào tay anh. Giọng nàng thì thầm "Nắm tay em thế này mãi nhé, đừng buông tay em ra nhé, đến cuối cuộc đời em!" "Không, đến cuối cuộc đời anh mới đúng chứ!" - Sao giống một câu chuyện nàng đã đọc đâu đó quá...

Máy bay bắt đầu giảm độ cao và sốc nhẹ. Nàng giật mình. Hóa ra câu chuyện giữa nàng và anh chỉ là một giấc mơ. Nàng thấy mình cuộn sâu hơn vào chiếc chăn mỏng. Anh vẫn ngủ say. Chuyến bay đêm dài 5 giờ sắp kết thúc và anh đang ngồi cạnh nàng. Và nàng vẫn chưa nói với anh "Hãy nắm chặt tay em đi đến hết cuộc đời này"...

(*) clueless: không đầu mối, không manh mối/thiếu khả năng cần thiết.

To be continued...

Sunday, November 05, 2006

Những giấc mơ của người đeo nhẫn – Dương Thụy

(Tặng Minh Hà)

Buổi sáng đến, ồn ào từ ngoài phố lẫn trong chính căn nhà của Thư. Đứa con gái hai tuổi rưỡi sau tiếng đồng hồ báo thức tự động ngồi dậy. Nó được mẹ huấn luyện theo kiểu Tây, không lôi thôi, không khóc lóc.
Con bé đánh răng, đi vệ sinh một mình rồi được mẹ thay đồ chỉnh tề ngồi vào bàn chuẩn bị ăn sáng. Thư thường chỉ uống vội ly sữa, cô tận dụng thời gian lúc chồng con ăn sáng để trang điểm.
Thư đến sở làm đúng tám giờ, ngồi vào bàn bắt đầu check những email đầu tiên. Trông cô thật chuyên nghiệp với bộ váy văn phòng cắt may thật khéo, dáng đi uyển chuyển năng động và thái độ tự tin trong các cuộc họp. Giờ nghỉ trưa, mọi người vẫn thấy Thư ngồi thật tập trung trước máy tính. Đảm nhận vị trí cố vấn pháp luật trong một công ty đa quốc gia, cô thường về đúng năm giờ rưỡi, mặc kệ những manager khác đang còn bận rộn ngồi lại và sẽ tắt máy lúc hơn bảy giờ.
Nhân viên dưới quyền thường kháo nhau Thư rất tham vọng và sẽ còn tiến xa hơn nữa. Ông sếp nước ngoài vốn khó hiểu cũng đôi lần tiết lộ: “Cô ấy có tương lai rất xán lạn”. Mọi người đều tin Thư sẽ là một ứng cử viên nặng ký cho những cơ hội thăng tiến nay mai. Cô thuộc dạng sẽ vượt qua được hết những thử thách khó khăn. Nhưng chỉ có Thư mới biết cô đang đối mặt với những thử thách gì.
Buổi tối, giấc mơ của Thư lại trở về. Thư tỉnh giấc, chồng cô đang trong giấc ngủ mỏi mệt. Cô ước gì anh có thể chia sẻ với mình cảm giác choáng ngợp từ giấc mơ mang lại. Nhưng chồng cô trông bệ rạc quá, mắt nhắm nghiền, thở từng nhịp dài, thân hình thõng ra bất động. Anh đã làm việc căng thẳng từ sáng sớm đến tối mịt nên khi đặt lưng xuống anh không muốn ai quấy rầy, kể cả những giấc mơ. Thư đã rất kinh ngạc khi biết rằng anh hầu như không bao giờ nằm mơ.
Ngày cô quyết định lập gia đình, một nửa bạn bè tiếc nuối, một nửa đồng tình, chép miệng: “Thì cũng phải đến lúc bỏ cuộc chơi...”. Thư cười, cố pha trò một câu: “Cũng đành nhắm mắt dang chân!”. Cô biết mình có thể vượt qua những cuộc thi quyết liệt tuyển nhân viên cấp cao của các công ty chỉ với một câu: “Tôi không ngại thử thách!”.
Thế nhưng cô không vượt nổi áp lực xã hội và những chuẩn mực đã được những con người không nắm giữ cuộc đời cô lập ra. Cô không dám “vượt khỏi vòng lễ giáo” và phải “yêu chay” biết bao những chàng trai tuyệt vời. Cô không dám làm một phụ nữ độc thân khi tuổi đã tròm trèm ba mươi mà phải chọn cho mình một người chồng trên mức trung bình theo chuẩn của xã hội Việt Nam. Cô không dám nói “không!” khi gia đình chồng mong muốn có cháu ngay sau ngày cưới. Và giờ đây cô không dám tỏ thái độ khi mẹ chồng “khủng bố” mỗi ngày về một đứa cháu trai phải được sinh vào năm sau.

* * *

Ngay hôm đầu tiên đến Cambridge, Thư nôn nóng đi bộ ra trung tâm dạo một vòng tham quan thành phố. Chiều chủ nhật thật yên tĩnh, những ngôi trường vắng lặng vươn cao những ngọn tháp đẹp kiêu hãnh. Bóng dáng bọn sinh viên trẻ trung lượn lờ trong những con phố hẹp được lát đá công phu. Thư thuê xuồng, dạo trên dòng sông Cam êm đềm chảy vắt qua những college (1) cổ xưa.
Giọng người chèo xuồng ấm áp sau lưng: “Đây là Queen college, Saint Catherine college, King's college, Trinity college, Saint John's college...”. Cô lặng người ngắm thiên nhiên đang vào xuân, cỏ cây đổi sang màu xanh tràn đầy sức sống, hoa mọc khắp nơi rực rỡ muôn màu, trời trong lành man mác lạnh. Cambridge nên thơ và dịu dàng quá với sắc màu thiên nhiên hiền hòa mà sang trọng hiếm có, với những ngôi trường tồn tại đã mấy trăm năm, sừng sững như những tòa lâu đài quyền quí.
Dù đã đi qua nhiều thành phố châu Âu, Cambridge vẫn đang làm Thư xúc động đến nghẹn thở. Cô thấy mình may mắn biết bao nhiêu. Thật xứng đáng với tất cả công sức Thư đã bỏ ra để thực hiện giấc mơ hằng đêm luôn ám ảnh cô. Thư đã truy tìm trên Internet trong suốt thời gian đồng nghiệp ngủ trưa cả năm nay để có được khóa học miễn phí này. Rồi quá trình thuyết phục sếp cho vắng mặt ba tháng trong công ty cũng thật căng thẳng. Và cuối cùng là một cuộc “cách mạng lớn” với gia đình chồng để họ cho phép Thư đem con gái về bên ngoại chăm sóc và “tạm hoãn” chuyện có tiếp một đứa con trai nối dõi tông đường.
- Lần đầu cô đến Cambridge phải không? - Người chèo xuồng cất giọng hỏi - Cô đi du lịch hay đến đây học?
- Cả hai!
Thư ngoái đầu lại nhìn, giờ cô mới nhận ra người chèo xuồng trông còn rất trẻ với khuôn mặt thư sinh rất khôi ngô. Anh cười với Thư thân thiện, tự giới thiệu mình tên Tom.
- Giống con mèo Tom trong Tom và Jerry phải không? - Thư bật cười - Con gái tôi rất mê mèo Tom, nó nói chuột Jerry tuy thông minh nhưng ác!
- Cô có con rồi sao? - Tom sửng sốt - Trông cô trẻ quá!
- Cảm ơn! - Thư thấy thật phấn chấn - Anh đoán tôi bao nhiêu?
- Cô giống sinh viên - Tom lúng túng - Tôi không đoán nổi đâu, thường người châu Á trông trẻ lắm...
Lúc Thư lên bờ và nói tạm biệt với Tom, cô cho biết mình tên Anh Thư, tức là “nữ anh hùng”. Nếu không nhớ được tên cô, anh chỉ cần gọi “Heroine” (2). Tom cười: “Chúng ta sẽ còn gặp nhau sao?”. Thư gật đầu: “Tôi nghĩ như vậy!”. Cô đi bộ về nhà trọ, bà chủ nhà gốc Ấn Độ đang chờ cô cùng ăn tối.

* * *

Thư bật đèn ngồi dậy nhìn ra bầu trời đêm. Chồng cô giờ này chắc đang bận rộn ở công ty. Những ngày đầu cưới nhau, dẫu là một cuộc hôn nhân có lý trí can thiệp Thư vẫn biết mình yêu và kính trọng anh thật nhiều. Nhưng cô không ngờ người đàn ông tưởng rất mạnh mẽ như cây tùng cây bách cho cô dựa ấy lại không chịu nổi áp lực từ gia đình mình, họ dè bỉu anh chiều vợ thái quá sẽ làm cô “hư”, chê anh “yếu” không đủ sức áp chế vợ, lên án anh bất hiếu không đòi vợ có nghĩa vụ sinh một đứa con trai.
Cô thất vọng biết bao những khi đuối lý anh chỉ biết ngụy biện: “Dù sao, anh cũng là chồng! Dù sao, đó cũng là mẹ chồng của em. Dù sao, em vẫn đang sống ở Việt Nam...”. Chồng cô đã trốn chạy những khi Thư nhắc lại trước lúc cưới nhau anh luôn hứa sẽ không để cuộc sống bận rộn của gia đình làm cản bước tiến nghề nghiệp. Anh đã cho cô niềm tin mình sẽ được ủng hộ nếu muốn tiếp tục vươn lên.
“Nếu xã hội luôn tạo cơ hội cho người chồng được thăng tiến - Thư cáu - không có lý gì để người vợ chịu thiệt thòi trên con đường sự nghiệp”. Chồng cô ngày càng lao vào công việc, anh trốn tránh những cuộc tranh luận đòi hỏi “quyền bình đẳng thật sự” của vợ. Và Thư chán nản nhận ra anh cũng tránh luôn những giờ phút đầu ấp tay gối. Họ dần xa nhau...

* * *

Mỗi ngày bà Asuri làm cho Thư một suất ăn sáng theo kiểu Anh gồm xúc xích chiên, trứng ốpla, một lát thịt nguội, một trái cà chua, dăm tai nấm xào và một muỗng lớn đậu trắng. Cô cố gắng ăn thêm hai lát bánh mì nướng và uống một ly trà sữa rồi thong thả đi bộ từ nhà đến trường, băng qua những con phố hẹp, những ngôi nhà nhỏ xinh, một công viên đang mùa hoa nở vào đầu xuân và những ngôi trường cổ kính hàng thế kỷ.
Thư luôn thấy hạnh phúc được bách bộ trong tiết trời dễ chịu, kể cả nếu có phải che dù dưới cơn mưa xuân nhẹ nhàng. Buổi trưa cô không ăn gì vì bữa English breakfast của bà Asuri vẫn còn đầy trong bao tử. Tối về Thư lại ăn cùng bà, thường là một chén xúp nóng và các món cá nấu với rau củ. Asuri kể lể những bất công trong xã hội Ấn Độ còn Thư lên án thân phận thua thiệt của phụ nữ Việt Nam.
Ăn xong bà Asuri phải dọn dẹp còn Thư đủng đỉnh lên phòng mình, bật tivi xem đủ thứ kênh rồi mở tiểu thuyết ra đọc trước khi chìm vào giấc ngủ thoải mái. Quả là một giai đoạn đẹp trong cuộc đời: không công việc, không phục vụ chồng con và cả không áp lực từ gia đình chồng. Khóa học không có gì thử thách, những buổi thảo luận nhẹ nhàng, các giáo viên nhiệt tình và bạn bè đều là dân luật, thân thiện đến từ khắp nơi.
Một buổi trưa không có giờ học, đang rảo bước trong hành lang vắng lặng của viện bảo tàng, ai đó hét to: “Ma túy! Ma túy!” (2) làm Thư chột dạ. Cô bỏ đi thật nhanh ra lối cổng chính nhưng có tiếng chân người đuổi theo rầm rập xuống cầu thang gỗ. Thư kinh sợ bỏ chạy nhưng không đủ nhanh để thoát khỏi một dáng người vội vã chụp vai cô lại.
- Xin chào! Tôi nè! Làm gì chạy dữ vậy? Không phải cô tên Heroin sao?
- Anh...? - Thư chợt nhận ra “anh lái đò” trên dòng sông Cam - Tom! Hôm nay không làm việc hả?
- Có chứ! - Tom vui vẻ vì đã được nhận ra - Tôi làm việc ở đây!
- Ở viện bảo tàng sinh vật? - Thư nhíu mày - Không chèo xuồng chở khách du lịch sao?
- À! - Tom bật cười - Đó chỉ là việc bán thời gian kiếm thêm chút đỉnh. Công việc chính của tôi là nghiên cứu... bướm.
Thư còn đang ngơ ngác Tom đã kéo tay cô đến bên quầy trưng bày những con bướm đủ kiểu. Anh nói thiên nhiên đã ưu đãi cho giống côn trùng này thật nhiều đặc ân, đến mức con người phải ganh tị vì bộ cánh loài bướm thật phong phú đến diệu kỳ. Tom khoe thêm: “Tôi đang làm nghiên cứu sinh về bướm!”. Thư kinh ngạc: “Có nghĩa anh sẽ là tiến sĩ... bướm của Đại học Cambridge?”. Tom gật đầu tự hào còn Thư đang ôm bụng cố nén không bật lên cười một cách vô duyên.
Tối đó cô có cớ ra khỏi nhà sau một tuần ở Cambridge đi ngủ sớm. Bà Asuri thấy Thư diện áo váy lộng lẫy, thắc mắc cô đi chơi với ai. Thư lắc đầu không đáp, làm ra vẻ bí mật. Trong đời cô chưa bao giờ được tiếp cận với một nhà côn trùng học, một người bỏ thời giờ và công sức của mình chỉ để cả đời say mê về những con vật bé tí.
Nhưng buổi tối hôm đó Tom không nhắc gì đến những con bướm, anh kể mình người Hà Lan, sang Anh theo học bổng của chính phủ nước này được một năm rồi. Tom vui tính và hồn nhiên với những câu chuyện cười kiểu Mr.Bean, có phần nhạt nhẽo so với một người luôn tự hào mình có lối suy nghĩ chiến lược như Thư. Tuy nhiên cô cũng bật cười hưởng ứng chàng trai dễ thương.
Đến lần hẹn thứ ba trong một câu lạc bộ sinh viên, Tom tự nhiên chào: “Hello, darling!” (3) khi vừa gặp Thư. Bà Asuri cũng hay gọi cô là “my darling” nên cô tự trấn tĩnh, nghĩ không có gì ầm ĩ chừng nào “tiến sĩ bướm” chưa gọi cô là “my love”.
Thế nhưng ngay tối đó, khi mở cửa cho Thư về lúc đã muộn, Asuri nhắc nhở: “Lần sau nhớ lấy theo chìa khóa nhé, my love!”. Thư vô cùng bối rối, cô nhận ra bên Anh người ta gọi nhau loạn xạ bằng những từ âu yếm mà không nhất thiết phải yêu đương gì. Đã thế, cô không có gì phải dè chừng Tom, cứ để anh thoải mái. Nhưng Thư biết thật ra chính cô mới đang thoải mái. Cô thích vẻ hồn nhiên của chàng trai, nụ cười trẻ thơ trên đôi môi duyên dáng hay làm cô thở dài và ánh mắt tinh nghịch của Tom cứ ám ảnh Thư.
Anh nhiệt tình đưa cô đi chơi khắp nơi, sang Oxford, ghé Stonehence, đến London vào những ngày cuối tuần. Thỉnh thoảng Tom mời Thư về căn hộ nhỏ nấu nướng những món Hà Lan và cô trổ tài đãi anh những món Việt. Thư “enjoy” những thời điểm bên Tom đầy phấn khích. Ngoài anh ra cô không giao du với các bạn học cùng khóa dù họ chung nghề nghiệp và cùng một lối “suy nghĩ chiến lược” của dân luật.
- Tom! Thử nghiêm túc một chút nhé! - Thư dò hỏi - Anh tính cả đời đi theo mấy con bướm đủ màu như vậy hoài sao? Rồi anh sống bằng gì? Làm “lái đò” kiếm chút bạc cắc hay làm bồi phục vụ trong những quán bar? Không vợ con gì sao?
- Không phải chính em đang cố thoát ra cuộc sống tẻ nhạt của một người có gia đình để tìm về với giấc mơ được tiếp tục học hỏi, được theo đuổi những gì mình đam mê trong một cuộc sống ung dung tự tại sao?
- Nhưng... - Lần đầu tiên Thư nhận ra Tom không hề hồn nhiên như cô tưởng - Em cũng chỉ cố thoát ra cuộc sống tự do trong một khoảng thời gian ngắn, rồi sẽ phải quay về với những nghĩa vụ của mình. Như vậy an toàn hơn, bền vững hơn...
- Em sống cho hạnh phúc của riêng mình hay của những người khác cảm nhận giùm mình? - Tom nghiêm túc hỏi - Nếu chỉ có nghĩa vụ, em còn hạnh phúc không? Và nếu đã không hạnh phúc thì an toàn và bền vững để làm gì?
- Tom - Thư tuyệt vọng kêu lên - Đừng cực đoan quá chứ! Em cũng muốn được “ung dung tự tại” như anh, nhưng...
- Em không can đảm tí nào, darling! - Tom nhìn Thư buồn bã - Vậy sao tên “nữ anh hùng”? Tôi thích em là “ma túy” hơn, em có khả năng làm cho người ta nghiện đó!
Thư nghiêm mặt: “Đừng, Tom!” nhưng anh đã ôm lấy vai Thư và dịu dàng đặt vào môi cô một nụ hôn đắm đuối. Thư không đủ can đảm như Tom vừa nhận xét, cô không thể đẩy anh ra và kinh ngạc nhận ra chính Tom mới là “ma túy” làm cô không dứt nổi. Gần ba tháng qua, dù cận kề bên nhau và có những thời điểm thân mật đủ để Tom vượt qua ranh giới của một tình bạn, anh đã cố không làm một người “tay đeo nhẫn” như Thư phải bối rối. Nhưng rồi chuyện gì đến đã không thể không đến...

* * *

Bà Asuri nhìn Thư không nuốt nổi buổi ăn sáng theo kiểu Anh. Cô càu nhàu thức ăn nhiều quá rồi bực bội uống ly trà sữa chưa kịp nguội đến mức phải buông cái tách vỡ vụn trên sàn nhà. Thư im lặng ôm lấy miệng. Môi cô bỏng rát và nước mắt ràn rụa. Bà Asuri vẫn không ngừng quan sát cô. Bà lặng lẽ cúi xuống gom những mảnh sứ mong manh lại.
“Nhanh thật, mới đây mà em sắp phải rời Cambridge rồi - cuối cùng Asuri cũng lên tiếng - Hẳn con tim em đang tan vỡ như cái tách này?”. Thư ngạc nhiên nhìn bà chủ nhà, chưa bao giờ bà nói chuyện theo kiểu trừu tượng như vậy. Cô đính chính: “Chỉ rạn vỡ thôi!”. Asuri mỉm cười: “Tiếng Anh của em chuẩn xác quá! Tôi vẫn thường hâm mộ em, darling!”. Thư bắt đầu mất bình tĩnh, cô hỏi thẳng: “Ý bà là gì?”. Asuri lại cười, một nụ cười rất “thiền” của người đàn bà trung niên gốc Ấn.
Bà chậm rãi nói như thể tiếng Anh không lưu loát lắm: “Tôi hâm mộ người biết biến giấc mơ thành hiện thực như em, darling. Còn tôi, em thấy rồi đó, tôi làm việc từ sáng sớm đến tối mịt trong căn nhà cho thuê này, từ việc nấu buổi sáng, dọn phòng, chùi cầu tiêu cho đến thức khuya mở cửa cho khách. Chồng tôi chẳng mó tay vào việc gì.
Ở Anh mấy tháng qua em có thấy những người đàn bà Trung Á mặc áo choàng đen che kín từ đỉnh đầu đến gót chân, những phụ nữ châu Phi luôn gằm mặt đi sau lưng chồng, những cô gái Trung Hoa chỉ có thể kết hôn với người cùng chủng tộc? Dù sống ở một đất nước tự do luôn đề cao nữ quyền, chúng tôi đã không thoát được xiềng xích vô hình của những lề thói trói buộc phụ nữ.
Có những phụ nữ bị ngược đãi, bị bạo hành, thậm chí bị giết chết. Luật pháp Anh che chở cho chúng tôi, nhưng chính bản thân chúng tôi không đủ sức bảo vệ cho chính mình. Chúng tôi cũng có những giấc mơ, rồi thất vọng với hiện thực và cuối cùng là không mơ mộng gì nữa. Mỗi đêm tôi ngồi thiền hai tiếng để đầu óc được trống rỗng, để đừng mơ và đừng dằn vặt vì những giấc mơ của mình!”.
Thư ngồi im lắng nghe, cuối cùng cô đứng lên chuẩn bị đi học buổi cuối. Thư yêu biết bao nhiêu đoạn đường này, những con phố hẹp, những ngôi nhà nhỏ xinh, một công viên đầy hoa và những ngôi trường cổ kính hàng thế kỷ. Cô sẽ nhớ Cambridge, nhớ những chiếc xuồng trôi lững lờ trên sông Cam và nhớ người con trai có nụ cười trẻ thơ dám sống đời ung dung tự tại.
Tom đưa Thư ra phi trường Heathrow, lúc nắm tay nhau lần cuối nói lời tạm biệt, anh tặng cô chiếc hộp vuông đựng những con bướm nhỏ xinh nằm ngoan ngoãn. “Quà cho con gái, nói của mèo Tom tặng! - Tom cười tinh nghịch - Và cố làm sao cho nó có ngày được vào Đại học Cambridge!”.
Thư bất ngờ, cô chưa kịp cảm ơn, Tom đã vội vã nói tiếp: “Mẹ tôi rất đẹp, thông minh và năng động. Ngày trước bà cũng có nhiều giấc mơ... Không có mẹ, tôi đã không thể thực hiện trọn vẹn niềm đam mê của mình!”. Thư im lặng lắng nghe, và anh tiếp tục thổ lộ: “Ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã thấy em thật giống mẹ tôi hồi trẻ!”. Thư lặng người, cô để Tom cúi xuống hôn nhanh lên môi mình, thì thầm: “Hãy cho con gái thật nhiều ước mơ, và cả em nữa, darling!”.

* * *

Thư vẫn thường có những giấc mơ, những buổi trưa không ngủ lang thang trên mạng, những niềm vui bên đứa con gái nhỏ xinh và người chồng trầm tĩnh. Cả nhà đi chơi thật nhiều để tận hưởng những giờ phút thư giãn, thoát khỏi những ràng buộc vô hình để can đảm sống cho chính mình. Thỉnh thoảng cô mơ thấy những con bướm đủ màu bay chấp chới trên dòng sông Cam, rồi nhẹ nhàng đậu lên ngọn tháp đẹp kiêu hãnh của ngôi trường cổ kính hàng thế kỷ. Đâu đó trong làn sương mù Cambridge buổi sớm mai, vọng lại tiếng ai gọi “Heroine” âu yếm, thật gần...

(1) Các trường đại học trực thuộc Đại học Cambridge
(2) Heroine (nữ anh hùng) và heroin (ma túy) có cách đọc giống hệt nhau
(3) Chào cưng!


Lúc trước có thời gian rất thích giọng văn của Dương Thụy. Nhưng càng ngày thấy lối viết của chị cứ càng đi vào lối mòn. Sau truyện ngắn mới nhất đăng trên báo TTCN này thì dường như không còn "cảm" được những tác phẩm của chị nữa. Nó như bị giới hạn bởi trách nhiệm, nghĩa vụ, đạo đức... quá nhiều mà đánh mất "cái tôi" nên có của một cây bút trẻ với những đề tài rất trẻ và thi thoảng gai góc.

Saturday, November 04, 2006

Cú điện thoại - Phan Việt

Khi chuông điện thoại đổ thì Nam đang ngồi đọc sách. Nam lưỡng lự một chút rồi nhấc điện thoại. Không có nhiều người biết số điện thoại di động của anh, cho nên đây hẳn là một người bạn, và hẳn phải có việc.
- Có phải Nam đấy không?
- Tôi, Nam đây, xin lỗi, chị là ai thế?
- Có lẽ anh không nhớ tôi đâu; tôi là bạn của Toko, chúng ta gặp nhau một lần trong International House hồi tôi đến thăm Toko ở đó. Lần đó anh cho tôi số điện thoại. Tôi học toán bên Trường DePaul.
Nam cố nhớ lại và loáng thoáng tưởng tượng ra khuôn mặt của cô gái. Nửa năm trước, anh ở trong khu ký túc có tên International House của Đại học Chicago và chơi thân với một nhóm bạn người Nhật. Có Toko, Katamy, Haru, và một vài người nữa - những người bạn Nhật chăm chỉ, nghiêm khắc và trọng danh dự. Trong phòng học kiêm thư viện của International House, hầu như tối nào anh và mấy người bạn Nhật cũng là những người ở lại cuối cùng. Họ thường đánh một ván cờ trước khi đi về phòng - thường vào khoảng 3 giờ sáng. Rồi Nam thuê nhà riêng và chuyển ra ở bên ngoài. Anh ít gặp lại những người bạn Nhật. Chương trình nghiên cứu sinh của anh khá nặng và càng về cuối thì càng mất nhiều thời gian.
- Dĩ nhiên là tôi nhớ. Tôi chỉ không nhớ tên. Xin lỗi, chị tên là gì nhỉ? - Nam hỏi.
- Aika.
- À, phải rồi Aika. Chị khỏe không?
- Tôi cũng bình thường; còn anh thế nào?
- Tôi cũng vậy thôi... Chị gọi tôi có việc gì chăng?
- À không... thực ra vấn đề là thế này, hôm nay tôi ở nhà một mình, ngày hôm nay nữa là tròn bốn tuần tôi ở nhà một mình, tôi chỉ muốn gọi điện nói chuyện với một ai đó; các bạn bè thân của tôi đều đi nghỉ Thanksgiving hết rồi. Không biết tôi có làm phiền anh không?
- Cũng không hẳn... tôi cũng chỉ đang đọc sách thôi...
- Anh có phiền không nếu chúng ta nói chuyện một lát?
- Không đâu, dĩ nhiên là không rồi...
- Cảm ơn anh...
- Vậy là chị không đi đâu nghỉ Thanksgiving?
- Không... tôi chẳng muốn đi đâu cả... đi đâu thì cũng vậy thôi...
- Chị còn học mấy năm nữa?
- Tôi còn khoảng hơn 1 năm, nhưng không chắc tôi có học hết không.
- Nghĩa là sao?
- Là có thể tôi sẽ bỏ học...
- Bỏ học ư? Nhưng chị chỉ còn hơn 1 năm, sắp xong rồi, sao chị không học nốt.
- Ai cũng nói vậy; nhưng tôi không chắc.
- Lấy được bằng tiến sĩ sẽ có lợi cho chị sau này; đằng nào thì chị cũng đã học sắp xong rồi.
- Bây giờ, một ngày ở trường cũng dài bằng một thế kỷ. Tôi đã chán ngấy trường học rồi. Ở lại thêm một năm sẽ là một cực hình quá sức của tôi.
- Tồi tệ đến vậy sao?
- Còn hơn cả tồi tệ... tôi không thể nào chịu nổi nữa rồi - giọng Aika nén chặt lại.
Nam cảm thấy bồn chồn, như thể anh chính là người gây ra tình cảnh của Aika. Nếu có một phụ nữ ngồi trước mặt anh và khóc, có thể anh sẽ đưa một cái mùi xoa, hoặc nếu quá lúng túng thì anh sẽ bỏ đi. Còn một người qua điện thoại, anh biết làm gì. Nói những lời an ủi thì Nam không thể. Đơn giản là anh không quen, cho dù anh biết đích xác cảm giác mà Aika vừa nói...
- Giáng sinh này chị có về Nhật thăm nhà không? - Nam hỏi, cố lái câu chuyện sang một hướng khác.
- Có thể tôi sẽ về, có thể không; còn tùy xem tình hình thế nào.
- Bao lâu rồi chị chưa về nhà?
- Hai năm rồi.
- Nhà chị có nhiều anh chị em không?
- Tôi là con một, ba mẹ tôi đều đã già... Anh đến Kyoto bao giờ chưa?
- Tôi chưa. Tôi mới đến Tokyo thôi.
- Kyoto rất đẹp. Cố đô cũ của Nhật. Mọi thứ yên ả hơn nhiều so với ở đây. Ít nhất là nơi tôi sống, mọi thứ đều yên ả và nhẹ nhàng.
- Chị nên về nhà...
- Nhưng về nhà không giải quyết được vấn đề của tôi.
Vấn đề của tôi. Đằng sau cánh cửa này không biết là thế giới nào; nhưng chắc là không vui vẻ gì. Nam im lặng.
- Anh đã bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ toán chưa? - Aika hỏi, giọng dịu xuống.
Nam im lặng.
- Không, tôi không nghĩ đến việc đó. Tôi cũng có lúc chán học, nhưng ai cũng có lúc chán học cả. Chị đừng lo, rồi mọi chuyện sẽ qua và chị sẽ lại thấy yêu thích toán như trước thôi. Chị hãy đi đâu đó nghỉ, rồi sẽ khá hơn.
- Nhưng nếu đây không phải là vấn đề thời điểm, không phải sự mệt mỏi bình thường, mà là tôi đã chọn sai, thì sao?
- Không phải đâu, chị biết rõ sự lựa chọn của chị. Ai cũng có lúc cảm thấy thế này. Rồi sẽ qua thôi. Chị chịu khó tập thể thao, hoặc đi chơi xa. Hãy về nhà một thời gian, rồi chị sẽ lại bình tĩnh trở lại.
- Không, anh không hiểu rồi...
- Chắc chị bị stress rồi, hãy tập thể thao hoặc đi đâu đó nghỉ một thời gian; rồi chị sẽ trở lại bình thường.
- Anh không hiểu rồi!!!
- Không hiểu ư? Không hiểu ư? Một cơn giận bất chợt dâng lên bóp nghẹt lấy anh, gần như làm anh tắc thở và đau thắt trong lồng ngực. Anh có thể giết chết một ai đó vào ngay lúc này. Chọc dao vào cổ cho tóe máu ra, rồi thảnh thơi ngoảnh đi - ví dụ thế chẳng hạn. Anh có thể giết chết ai đó. Nam cảm thấy như máu trào ra trong họng anh, tanh lợm.
- Aika, xin lỗi chị, có lẽ tôi phải đi ăn tối một lát... - Nam nói, cố gắng ghìm giọng xuống.
- Tôi xin lỗi. Có lẽ tôi cũng nên kiếm cái gì ăn tối. Tôi có thể gọi lại cho anh sau không? Thú thật là tôi buồn chán quá; tôi muốn nói chuyện với một ai đó; chuyện gì cũng được, bất cứ chuyện gì anh thích...
- Chắc chắn rồi, chị cứ gọi lại. Nam không đói nhưng anh vẫn quyết định đi bộ ra phố ăn tối. Anh để đầu trần. Trời rét căm căm và tuyết đóng thành một lớp băng mỏng trên lối đi. Anh phải men theo rìa cỏ mỏng ở bên mép đường để khỏi ngã. Đi một lúc, Nam nhận ra các cửa hàng đều đóng cửa vào đêm lễ; chỉ còn có McDonald, KFC và các hàng fastfood là mở cửa.
Nam quyết định đi vào McDonald mua một cái bánh mì kẹp. Ở cửa ra vào, anh thấy một người đàn ông da đen đứng co ro cầm một cái cốc nhựa xin tiền. Nhiều người khổ hơn mình nhiều (chắc vậy). Anh bỏ vào cốc 50 xu. Người đàn ông cảm ơn và nhanh nhẹn mở rộng cửa cho anh vào. Trong lúc ngồi ăn, Nam băn khoăn không biết Aika ăn gì vào buổi tối.
Đến một lúc nào đó, trong khi nhai, Nam nhận ra mình đang nghĩ đến một thành phố khác. Anh tưởng tượng ra một ngôi đền cổ ở Kyoto, sân đền lát đá xanh, phủ đầy rêu phong. Bao quanh đền là những rặng hoa anh đào đang nở rộ. Và dưới bóng một cây anh đào đỏ chói, Aika đang ngồi chậm rãi gắp thức ăn từ trong những cái hộp gỗ sơn mài nho nhỏ màu đỏ và đen - loại vẫn thấy bán ở khu phổ cổ Hà Nội cho khách du lịch Tây. Aika không hề ngẩng lên khi ăn; trong lúc đó, những cánh hoa anh đào cứ rơi xuống như mưa ở xung quanh chỗ Aika ngồi, thành một quầng tròn đỏ, tươi rói như máu ứa, như mực son Tàu.
Anh khẽ lắc đầu để tẩy cái vệt son đỏ ra khỏi não.
Gần 9 giờ tối, chuông điện thoại lại đổ. Nam nhìn số và nhận ra số điện thoại của Aika. Tim anh nặng trĩu. Anh lưỡng lự rồi quyết định để kệ cho chuông điện thoại đổ dài. Không thấy Aika để tin nhắn.
Mười một giờ đêm, Nam nằm trên giường đọc sách. Chuông điện thoại lại đổ, xâm chiếm cả căn phòng. Anh nhìn số. Tim anh đập thình thịch. Vẫn là Aika.
Nam biết rõ anh không thể.
Sau đó, khi căn phòng đã trở lại im ắng, Nam bấm nút vặn nhỏ chuông đi, để nếu có ai đó gọi lại thì anh sẽ không nghe thấy.
Sáng hôm sau, khi Nam tỉnh dậy, trên màn hình điện thoại không báo cuộc gọi nhỡ nào.
Nam thở ra, cúi nhìn hai lòng bàn tay mình. Anh thấy chúng như tay của một người lạ.
*
Nửa năm trôi qua. Có một chiều cuối mùa xuân, Nam đang thả bộ trên đường từ trường về nhà thì gặp Toko. Họ không gặp nhau đã lâu kể từ khi Toko tốt nghiệp và rời khỏi trường mùa đông trước đó. Hai người tay bắt mặt mừng. Họ rủ nhau tạt vào Starbucks uống một tách cà phê và nói chuyện. Câu chuyện được hơn 1 tiếng thì nhạt dần. Bên ngoài đèn đường bắt đầu được thắp lên. Nam nói hững hờ để giữ câu chuyện trong lúc họ đứng dậy mặc áo choàng chuẩn bị ra về:
- Cách đây lâu rồi, Aika có gọi điện cho tôi. Không biết cô ấy dạo này ra sao. Đã tốt nghiệp và về Kyoto chưa nhỉ?
Toko đang đi dở găng tay, ngừng hẳn lại nhìn Nam:
- Aika ở bên DePaul à? Anh không biết gì sao?
- Biết gì?
- Cô ấy chết được nửa năm rồi. Cô ấy tự tử vào đúng đêm Thanksgiving năm ngoái. Cô ấy chích dao vào bụng rồi cứ để máu chảy ra đến chết. Theo kiểu samurai ngày xưa. Thế mà nửa năm rồi...
Nam đưa hai tay lên, ngọ nguậy những ngón tay cho dẻo, rồi cẩn thận đi găng tay. Toko đã đi xong găng và đội mũ. Họ chào nhau ở ngoài cửa, rồi bước về hai ngả dưới làn mưa bụi lắc rắc của mùa xuân. Nam ngoái nhìn theo Toko, tự hỏi nửa năm nữa hay bao giờ thì anh sẽ lại nhìn thấy Toko.

Trong 1 ngày mà bắt gặp "con dao" đến vài lần, cũng là một sự trùng hợp thú vị nhỉ!